vanban.org

Bản án 195/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Ngọc S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc S 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2019. Án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) buộc bị cáo Trần Thị Ngọc S phải chịu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "174.Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Ngọc S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 195/2019/HS-ST
Ngày: 18/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Thái Văn Sơn;

- Bà Trần Thị Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lụa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 176/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị Ngọc S, sinh năm: 1969 tại Thành phố H. Nơi đăng ký thường trú: Số 336/19B đường N, Phường X, Quận Y, Thành phố H; chỗ ở hiện nay: Số 28, đường số 13A, phường B, quận B, Thành phố H; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn K (chết) và bà: Lâm Thị T; bị cáo có chồng tên Sầm Anh T1 (chết), có 04 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1991. tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 23/10/2019 cho đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.

Nhân thân:

- Ngày 11/6/1991 và ngày 08/8/1991 bị Công an Quận X, Thành phố H bắt về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”;

- Ngày 09/11/1994 bị Tòa án nhân dân quận B, Thành phố H xử phạt 12 tháng tù theo Bản án số 0318/HSST về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”;

- Ngày 11/9/1995 bị Công an quận G, Thành phố H bắt về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”;

- Ngày 07/02/1996 bị Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt 05 năm tù theo Bản án số 223/HSST về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”;

- Ngày 23/12/1999 bị Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt 04 năm tù theo Bản án số 3395/HSST về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”;

- Ngày 02/3/2005 bị Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H xử phạt 07 năm tù theo Bản án số 33/HSST về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Ngày 30/3/2005 bị Tòa án nhân dân quận B, Thành phố H xử phạt 6 năm tù theo Bản án số 52/HSST về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Bị hại: Bà Nguyễn Yên T, sinh năm: 1980 (Xin vắng mặt).

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, Trần Thị Ngọc S nảy sinh ý định tìm đối tượng để lừa đảo lấy tài sản, ngày 18/3/2019, S thuê 01 thanh niên (không rõ lai lịch) chạy xe gắn máy Grabbike (không rõ biển số) chở S từ phường B, quận B, Thành phố H đến huyện C, Thành phố H. Khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, S đến cửa hàng tạp hóa “Bé T” tại ấp C, xã T, huyện C hỏi mua hàng, S yêu cầu tài xế Grabbike đứng đợi trước cửa hàng quần áo cách cửa hàng tạp hóa “Bé T” khoảng 30 mét. Sau đó Sương đi vào cửa hàng gặp bà Nguyễn Yên T là chủ cửa hàng hỏi mua một số hàng hóa gồm: 02 hộp sữa Ensure Gold loại 850 gram, 10 hộp phô mai Lavache Quirit loại 120 gram, 10 bịch xúc xích Visssan loại 175 gram, 100 bao thuốc lá Craven và 20 bao thuốc lá 555 do Việt Nam sản xuất. Khoảng 05 phút sau bà T mang số hàng hóa trên (đựng trong 03 túi nilon màu đen) đến cửa hàng quần áo giao cho S, S giả vờ hỏi mua thêm 20 lon nước yến và yêu cầu bà T về cửa hàng lấy thêm rồi sẽ trả tiền. Khi bà T vừa quay lưng đi thì Sương cầm số hàng hóa trên leo lên xe của tài xế Grabbike và yêu cầu tài xế điều khiển xe chạy đi, chạy được 400 mét thì S bị quần chúng bắt giữ.

: 93/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Củ Chi, kết luận: Số hàng hóa bị chiếm đoạt có tổng giá trị 5.538.000đ (Năm triệu năm trăm ba mươi tám ngàn đồng).

- 02 (Hai) hộp sữa Ensure Gold loại 850 gram;

- 10 (Mười) hộp phô mai Lavache Quirit loại 120 gram;

- 10 (Mười) bịch xúc xích Visssan loại 175 gram;

- 100 (Một trăm) bao thuốc lá Craven;

- 20 (Hai mươi) bao thuốc lá 555 do Việt Nam sản xuất.

Các tài sản nêu trên đã trả lại cho bà Nguyễn Yên T.

Tại bản Cáo trạng số 159/CT-VKS ngày 24 tháng 9 năm 2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố H đã truy tố bị can Trần Thị Ngọc S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

phiên tòa, bị cáo Trần Thị Ngọc S thừa

và khai rằng: Vào ngày 18/3/2019, bị cáo đang ở nhà chị ruột tại quận B, Thành phố H, bị cáo gọi người thanh niên là tài xế xe Grabbike chở xuống huyện Củ Chi với mục đích kiếm người lừa chiếm đoạt tài sản. Đến khoảng 8 giờ 30 phút bị cáo đến khu vực ấp C, xã T, huyện C và kêu tài xế xe Grabbike đứng đợi ở tiệm quần áo cách cửa hàng tạp hóa “Bé T” 30 mét để chờ bị cáo đi mua hàng. Bị cáo đi đến cửa hàng tạp hóa “Bé T” hỏi mua 02 hộp sữa Ensure Gold loại 850 gram, 10 hộp phô mai Lavache Quirit loại 120 gram, 10 bịch xúc xích Visssan loại 175 gram, 100 bao thuốc lá Craven và 20 bao thuốc lá 555 do Việt Nam sản xuất. Sau khi mua hàng xong bị cáo yêu cầu chủ cửa hàng tạp hóa mang hàng giao cho bị cáo trước tiệm bán quần áo rồi bị cáo trả tiền, bị cáo đi lại chỗ người thanh niên chạy xe Grabbike đứng chờ 05 phút thì bà T mang hàng hóa đến giao cho bị cáo, khi đó bị cáo giả vờ hỏi mua thêm 20 lon nước yến và kêu bà T quay về cửa hàng lấy giao cho bị cáo rồi bị cáo sẽ trả tiền hết, mục đích của bị cáo là khi bà T quay đi bị cáo sẽ chiếm đoạt số hàng hóa trên. Khi bà T quay đi, bị cáo kêu người thanh niên chạy xe Grabbike chạy xe đi, chạy được khoảng 400 mét thì bị người dân bắt giữ giao cho Công an.

Tại phiên tòa, bị hại là là bà Nguyễn Yên T xin vắng mặt, lời khai của bà T tại cơ quan cảnh sát điều tra thể hiện vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 18/3/2019, khi bà đang ở cửa hàng tạp hóa “Bé T” do mình làm chủ thì có một người phụ nữa đến hỏi mua một số hàng hóa, sau đó người phụ nữa kêu bà giao hàng hóa tại tiệm quần áo cách cửa hàng của bà 30 mét. Khoảng 05 phút sau bà mang hàng hóa đến tiệm quần áo giao cho người phụ nữ, sau đó người phụ nữ kêu bà quay lại cửa hàng lấy thêm 20 lon nước yến giao tiếp rồi sẽ trả tiền, khi bà vừa quay đi thì người phụ nữ lấy 03 bịch hàng leo lên xe gắn máy của một tài xế Grabbike chạy đi, bà truy hô và quần chúng nhân dân truy đuổi bắt được người phụ nữ trên, người dân cho tài xế xe Grabbike đi vì thấy người này không liên quan. Bà đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 274 và Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc S mức án từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Trần Thị Ngọc S có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Điều 32 và Khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Trần Thị Ngọc S không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo Trần Thị Ngọc S nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xử nhẹ để bị cáo sớm trở về chăm sóc mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Trần Thị Ngọc S có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 02 hộp sữa Ensure Gold loại 850 gram, 10 hộp phô mai Lavache Quirit loại 120 gram, 10 bịch xúc xích Visssan loại 175 gram, 100 bao thuốc lá Craven và 20 bao thuốc lá 555 do Việt Nam sản xuất có tổng giá trị 5.538.000đ (Năm triệu năm trăm ba mươi tám ngàn đồng), phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Trần Thị Ngọc S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Trần Thị Ngọc S là nguy hiểm, bị cáo lợi dụng lòng tin của người khác để chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phươ

m đ

nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thoả mãn động cơ tư lợi của cá nhân bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc là cần thiết.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo Sương có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có việc làm nên Hội đồng xét xử xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Về vật chứng vụ án:

Bà Nguyễn Yên T là người bị chiếm đoạt tài sản là 02 hộp sữa Ensure Gold loại 850 gram, 10 hộp phô mai Lavache Quirit loại 120 gram, 10 bịch xúc xích Visssan loại 175 gram, 100 bao thuốc lá Craven và 20 bao thuốc lá 555 do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, bà T đã được nhận lại tài sản. Tại phiên tòa hôm nay, bà T xin vắng mặt nhưng hồ sơ thể hiện bà không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với người thanh niên chưa rõ lai lịch chạy xe Grabbike, cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên không xử lý, do đó Hội đồng xét xử không xét.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Ngọc S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 174 và Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc S 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2019.

- Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) buộc bị cáo Trần Thị Ngọc S phải chịu.

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ