- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Lưu Văn Đắng-Lê Ngọc Hiếu"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b Nguyễn Th H . Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2018/DS-ST ngày 9 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh C Mau.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự Ngh
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 195/2018/DS-PT Ngày: 17- 10 - 2018 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Út
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Th nh ập
Ông Huỳnh Văn Yên
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan – Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:B Nguyễn Th Thúy Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh C Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 154/2018/TLPT- DS ngày 16 tháng 8 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuy n nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2018/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân b kháng cáo.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 223/2018/QĐPT-DS ng y28 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông ưu Văn D1, sinh năm 1965 (có mặt).
Cư trú tại: Khóm 5, th trấn Cái Đôi V m, huyện Phú Tân, tỉnh C Mau.
- Bị đơn:
1. Ông ê Ngọc H1 (Hiển), sinh năm 1957 (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của anh Lê Ngọc Hiếu: Bà Nguyễn Th H2, theo hợp đồng ủy quyền ng y 14 tháng 01 năm 2016.
2. Bà Nguyễn Th H2, sinh năm 1965 (có mặt).
Cùng cư trú: Khóm 5, th trấn Cái Đôi V m, huyện Phú Tân, tỉnh C Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân huyện Phú T, tỉnh C Mau.
Đ a chỉ: Ấp C, xã N, huyện P, tỉnh C ..
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Trường Giang – Chủ t ch.
Tại Công văn số: 1065/UBND ng y 18 tháng 6 năm 2018 Ủy ban nhân dân huyện Phú T đề ngh Tòa án xét xử vắng mặt.
2. Ngân h ng nông nghiệp v phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Phú Tân, tỉnh C Mau (vắng mặt).
Đ a chỉ: Số 02 áng Hạ, phường Th nh Công, quận Ba Đình, Th nh phố H Nội.
3. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1974 (vắng mặt).
4. Bà Nguyễn Th D2 (vợ ông T2) (vắng mặt).
5. Bà ê Th K, sinh năm 1957 (vắng mặt).
6. Ông H2 Quốc Trí, sinh năm 1969 (vắng mặt).
7. Bà Trần Th N1 (vợ ông T3) (vắng mặt).
8. Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1967 (vắng mặt).
9. Bà Phan Th P (vợ ông N2), sinh năm 1962 (vắng mặt).
10. Ông Nguyễn Thanh Q1, sinh năm 1985 (vắng mặt).
11. Ông Trần Văn M1 (vắng mặt).
12. Ông Nguyễn Văn T4 (vắng mặt).
13. Ông âm Văn Q2, sinh năm 1954 (vắng mặt).
14. Bà Trần Th M2 (vợ ông Q2) (vắng mặt).
15. Ông ưu Văn V, sinh năm 1981 (vắng mặt).
16. Bà Nguyễn Th Q3 (vợ ông V) (vắng mặt).
17. Ông Lê Súp R1, sinh năm 1984 (vắng mặt)
18. Ông Lê Súp R2, sinh năm 1987 (vắng mặt).
19. Ông Lê Súp L, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Cùng cư trú: Khóm 5, th trấn Cái Đôi V m, huyện Phú Tân, tỉnh C Mau.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Th H2 – Là b đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Lưu Văn D1 trình bày: Ng y 24 tháng 12 năm 1995 ông có sang nhượng của ông H1 phần đất diện tích 17.564m2, tọa lạc tại khóm 5, th trấn Cái Đôi V m, huyện Phú Tân, tỉnh C Mau với giá l 12.500.000 đồng ông đưa trước 5.000.000 đồng, có l m giấy sang nhượng do ông H1 và bà H2 ký tên.
Ng y 19 tháng 12 năm 1996 vợ chồng ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 đổi ý không sang hết phần đất trên cho ông m chỉ cắt một phần đất diện tích 4.396m2 tương ứng với 5.000.000 đồng m ông đưa trước cho ông H1. Đến ng y 01 tháng 01 năm 2009, ông yêu cầu bà H2 và ông H1 tách quyền sử dụng đất sang tên ông nhưng ông H1 và bà H2 không đồng ý nên xảy ra tranh chấp. Phần đất trên hiện ông sử dụng khoảng 1.000m2 để l m sân phơi, còn lại ông H1 và bà H2 đang sử dụng. Nay ông yêu cầu ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 giao cho ông toàn bộ diện tích l 4.396m2 theo hợp đồng ký kết giữa hai bên.
- Bị đơn ông Lê Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị H2 trình bày:
Ông, bà có sang cho ông ưu Văn D1 phần đất 17.564m2tọa lạc tại khóm 5, th trấn Cái Đôi V m, huyện Phú Tân, tỉnh C Mau với giá l 12.500.000 đồng, ông D1 đưa trước 5.000.000 đồng tiền đặt cọc, ông H1 có đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông ưu Văn D1 để ông D1 chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn l 10 ng y, sau khi l m xong thủ tục ông D1 sẽ trả đủ số tiền còn lại l 7.500.000 đồng.
Đến 05 tháng sau ông D1 không l m thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vợ chồng ông có đến kêu ông D1 l m thủ tục chuyển nhượng để trả ông b số tiền còn lại nhưng ông D1 nói không sang nữa v trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất(Giấy CNQSDĐ) cho ông H1, bà H2. Ông D1 không thực hiện theo hợp đồng nên xem như mất cọc 5.000.000 đồng. Năm 2004 tách huyện Phú Tân nên ông H1 đổi lại Giấy CNQSDĐ đứng tên ê Ngọc H1, trong đó đất thổ cư l 234,0m2, đất nuôi trồng là 17.330m2. Năm 2008 ông H1 thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền tại Ngân h ng nông nghiệp huyện Phú Tân đến nay chưa trả tiền cho Ngân h ng. Nay ông ưu Văn D1 yêu cầu ông H1, bà H2 phải giao phần đất có diện tích 4.396m2 cho ôngĐắng, ông H1, bà H2 không đồng ý. Đối với phần đất ông D1 đang quản lý l khoảng 1.000m2 l m sân phơi l ông H1, bà H2 cho ông D1 mượn từ năm 1995 đến nay.
- Tại công Văn số: 13/NHNoPT ng y 27 tháng 4 năm 2018 của đại diện Ngân h ng nông nghiệp v phát triển nông thôn v bản kê tính lãi ng y 05 tháng 7 năm 2018 thể hiện: Ng y 16 tháng 5 năm 2012 ông ưu Văn D1 có vay Ngân hàng nông nghiệp v phát triển nông thôn Chi nhánh huyện Phú Tân với số tiền l 30.000.000 đồng lãi suất tính đến ng y 03 tháng 7 năm 2018 với số tiền l 37.612.500 đồng. Khi vay ông D1 có thế chấp quyền sử dụng đất số BI352034 với diện tích l 4.396m2, đất tọa lạc tại khóm 5, th trấn C i Đôi V m, huyện Phú Tân. Ông D1 đã vi phạm hợp đồng vay v để nợ quá hạn nên Ngân h ng yêu cầu ông D1 trả vốn v lãi với số tiền l 67.612.500 đồng v lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lưu Văn V trình bày:
Năm 2004, ông ưu Văn D1 có cho ông phần đất ngang 05m, d i 11m tọa lạc tại khóm 5, th trấn Cái Đôi V m, huyện Phú Tân trong phần đất đang tranh chấp giữa ông D1 và ông H1, việc cho đất chỉ nói miệng không l m giấy tờ gì. Sau khi cho đất, ông đã bồi đắp nền đất diện tích ngang 05m, d i 11m, đắp đất cao 1,5m, đất lấy tại chỗ để l m nền cất nh . Căn nh của ông mái lợp típ lô, cột xi măng, nền lót gạch t u, vách lá. Hiện tại chỉ có ông v vợ tên Nguyễn Th Q3 sống trong ngôi nh trên. Nay ông D1 và ông H1, bà H2 xảy ra tranh chấp, ông đồng ý trả lại phần đất cho ông D1, nhưng trường hợp sau khi giải quyết xong vụ án, đất thuộc về ai v nếu có yêu cầu ông di dời nh thì ông yêu cầu bồi thường giá tr căn nh v giá tr bồi đắp nền nhà cho ông.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Văn Q2 trình bày: V o năm 2002 ông có hỏi ông D1 cho ông ở nhờ trên phần đất, do ông l người l m công nên ông D1 đồng ý cho ông cất nh ở trên đất từ năm 2002 đến nay. Nh cột cây, lợp lá, nền lót ván v cây gỗ đ a phương. Hiện tại ngôi nh gồm ông v vợ tên l Trần Th M2 đang sinh sống. Nay ông yêu cầu sau khi Tòa án giải quyết vụ án, đất thuộc về ai v buộc ông di dời thì phải hỗ trợ chi phí để ông di dời nh l 10.000.000 (mười triệu) đồng, ông không yêu cầu đ nh giá ngôi nh . Ngo i ra, ông xin vắng mặt không tham gia tố tụng trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T2 trình bày: Khoảng năm 1989 ông cùng cha ông l ông Trần Văn Thu có khai phá phần đất ở khóm 5, th trấn Cái Đôi V m, huyện Phú Tân, tỉnh C Mau. Khoảng 03 năm sau thì cha ông chết ông quản lý sử dụng phần đất cho đến nay. Hiện nay ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ có sổ v ng theo dõi thuế nh đất. Khoảng năm 1998 ông có hỏi ông D1 cất nhờ s n nước trên phần đất của ông D1 khoảng 10m2, có làm mái che bằng cây lá tạm. Nay ông ưu Văn D1 và ông ê Ngọc H1, bà Nguyễn Th H2 tranh chấp, khi Tòa án giải quyết đất của ai ông đồng ý trả đất cho người đó, không có ý kiến gì khác. Ông sẽ tự nguyện di dời để trả lại đất v không yêu cầu bồi thường vì ông không có đầu tư cải tạo gì trên đất.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị K trình bày:
Khoảng năm 1994 - 1995 chồng của b l Nguyễn Văn Công (đã chết) nhận chuyển nhượng của ông Trần Thanh Đồng phần đất chiều ngang 4,5m, chiều d i khoảng 20m. Nhưng chưa được cấp quyền sử đất chỉ có sổ v ng theo dõi thu thuế nh đất. Khoảng năm 2005 b có hỏi ông D1 xin cất nhờ chuồng heo trên đất của ông D1, chuồng heo có chiều ngang khoảng 4,5m, chiều d i 05m, cất bằng cây lá tạm. Nay ông ưu Văn D1 và ông ê Ngọc H1, bà Nguyễn Th H2 tranh chấp thì khi Tòa án giải quyết đất của ai thì bà đồng ý trả đất cho người đó, không ý kiến gì khác. B tự nguyện di dời, không yêu cầu bồi thường gì khác, do b không đầu tư cải tạo gì trên đất nên không yêu cầu gì thêm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H2 Quốc Trí trình bày: Khoảng năm 1997 bà H2 Thu oan (tại th trấn Cái Nước, th trấn Cái Nước, tỉnh C Mau) l cô của ông cho ông mượn phần đất ở tại khóm 5, th trấn Cái Đôi V m, huyện Phú Tân, tỉnh C Mau v ông sử dụng phần đất từ năm 1997 cho đến nay. Ông được cấp sổ v ng theo dõi thu thuế nh đất h ng năm với diện tích ngang 8,5m, dài 24m. Khoảng năm 2005 ông có hỏi nhờ ông D1 để hỏi mượn đất cất s n nước, chiều ngang 05m, d i 02m (khoảng 10m2), s n nước bằng cây, mái lợp thiết. Nay ông ưu Văn D1 và ông ê Ngọc H1, bà Nguyễn Th H2 tranh chấp thì khi Tòa án giải quyết đất của ai thì ông đồng ý trả đất cho người đó, không ý kiến gì khác.Ông tự nguyện tháo dỡ di dời, do ông không đầu tư, cải tạo gì trên đất nên không yêu cầu gì thêm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn M1 trình bày:
Năm 2005 ông mượn v ở nhờ trên phần đất của cha vợ tên l Nguyễn Hữu Ngọn (ông Ngọn hiện sống tại ấp 11, xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh C Mau) v sinh sống trên đất cho đến nay. Phần đất được cấp sổ v ng theo dõi thu thuế nh đất h ng năm do ông Ngọn đứng tên. Khi ông ở thì đã có nh v có s n nước cất nhờ trên đất ông D1 khoảng 07m2.Nay ông ưu Văn D1 và ông ê Ngọc H1, bà Nguyễn Th H2 tranh chấp thì khi Tòa án giải quyết đất của ai thì ông đồng ý trả đất cho người đó, không ý kiến gì khác.Ông tự nguyện tháo dỡ di dời, do ông không đầu tư, cải tạo gì trên đất nên không yêu cầu gì thêm.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị P trình bày: Khoảng năm 1998 vợ chồng b nhận chuyển nhượng phần đất của anh chồng tên Nguyễn Văn Núi, ngang 06m, d i 20m sử dụng cho đến nay. Phần đất được cấp sổ v ng theo dõi thu thuế nh đất h ng năm do ông Nguyễn Văn N2 (chồng b ) đứng tên. Năm 1999 vợ chồng b cất nh v có hỏi mượn ông D1 cất s n nước v nh vệ sinh bằng cây lá đ a phương, mái lợp tol diện tích khoảng 08m2 .Nay ông ưu Văn D1 và ông ê Ngọc H1, bà Nguyễn Th H2 tranh chấp thì khi Tòa án giải quyết đất của ai thì vợ chồng b đồng ý trả đất cho người đó, không ý kiến gì khác. Vợ chồng b tự nguyện tháo dỡ di dời, không yêu cầu bồi thường gì khác, do vợ chồng b không đầu tư, cải tạo gì trên đất nên không yêu cầu gì thêm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh Q1 trình bày:
Khoảng năm 2007-2008, ông ở trên phần đất, ngang 06m, d i 25m, nguồn gốc đất l của b thiếm của ông tên Võ Th an (hiện sống tại Sóc Trăng) chuyển nhượng cho ông. Cùng năm đó ông cất nh v ông quản lý, sử dụng cho đến nay. Phần đất được cấp sổ v ng theo dõi thu thuế nh đất h ng năm do b Võ Th an đứng tên, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi cất nh ông có hỏi mượn ông D1 phần đất để cất nh vệ sinh với diện tích khoảng 04m2. Nay ông ưu Văn D1 và ông ê Ngọc H1, bà Nguyễn Th H2 tranh chấp thì khi tòa án giải quyết đất của ai thì ông đồng ý trả đất cho người đó, không ý kiến gì khác. Ông tự nguyện tháo dỡ di dời, không yêu cầu bồi thường gì khác, do ông không đầu tư, cải tạo gì trên đất nên không yêu cầu gì thêm.
- Tại đơn ý kiến bổ sung ngày 29 tháng 8 năm 2014 ông Lê Súp R1, ông Lê Súp R2, Lê Súp L trình bày:
Thống nhất với lời trình b y của ông H1 và bà H2, không đồng ý việc chuyển nhượng phần đất cho ông H1 v đề ngh Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông ưu Văn D1.
* Quá trình giải quyết vụ án này đã bị hủy án, được tóm t t như sau:
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2009/DS-ST ngày 30/11/2009 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của ông ưu Văn D1, buộc ông Lê Ngọc H1 phải trả lại cho ông ưu Văn D1 5.000.000 đồng.
Ngày 10/12/2009 ông ưu Văn D1 có đơn kháng cáo, yêu cầu ông H1 – bà H2 thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số: 73/2010/DS-PT ngày 07/5/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau quyết định:
Chấp nhận kháng cáo của ông ưu Văn D1. Sửa bản án sơ thẩm số: 07/2009/DS-ST ng y 30/11/2009 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 có nghĩa vụ giao cho ông ưu Văn D1 phần đất có diện tích thực tế 4.396m2 (có sơ đồ kèm theo). Ông D1 có quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy đ nh pháp luật, kiến ngh Ủy ban nhân dân huyện Phú T điều chỉnh lại Giấy CNQSDĐ của ông Lê Ngọc H1 phù hợp với diện tích đã giao đất cho ông ưu Văn D1.
Buộc ông ê Ngọc H1 có nghĩa vụ trả cho Ngân h ng Nông nghiệp v phát triển nông thôn chi nhánh huyện Phú Tân số tiền vay 74.000.000 đồng v lãi suất theo hợp đồng tín dụng ng y 03/9/2008 giữa Ngân h ng với ông H1.
Tại quyết định giám đốc thẩm số: 313/2013/DS-GĐT ngày 23/7/2013 của Tòa án nhân dân tối cao quyết định:
1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 73/2010/DS-PT ngày 07/5/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh C Mau v Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2009/DS-ST ngày 30/11/2009 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân giữa nguyên đơn ông ưu Văn D1 – b đơn ê Ngọc H1.
2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm lại theo quy đ nh pháp luật.
T nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2018/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân quyết định:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26 Điều 34 điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 147 Điều 227 Điều 228 Điều 271 v Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Áp dụng các điều 133, 139, 146, 705,707của Bộ luật dân sự năm 1995 Áp dụng ngh quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ng y 16 tháng 4 năm 2003 v Ngh quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ng y 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao Áp dụng Điều 27 của Pháp lệnh về án phí, lệ phí To án
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông ưu Văn D1. Công nhận một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông ưu Văn D1 với ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 phần đất có diện tích 717,8m2. Buộc ông H1, bà H2 có nghĩa vụ giao cho ông D1 phần đất có diện tích 717,8m2 tọa lạc tại khóm 5, th trấn Cái Đôi V m, huyện Phú Tân, tỉnh C Mau. V trí tứ cận tiếp giáp:
+ Đông giáp phần đất ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 dài 23,87m.
+ Tây giáp phần đất ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 dài 24,10m.
+ Nam giáp phần đất ông Cao Minh Trí, ông Trần Văn Dân, ông ưu Văn D1 dài 31,66m.
+ Bắc giáp phần đất ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 dài 31,66m.
(Kèm theomảnh trích đo đ a chính)
2. Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông ưu Văn D1 với ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 phần đất có diện tích 3.678,2m2.
3. Buộc ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại cho ông ưu Văn D1 số tiền 2.204.828.943 đồng (hai tỷ, hai trăm lẽ bốn triệu, tám trăm hai mươi tám ngàn, chín trăm bốn mươi ba đồng).
K t ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 352034 của Ủy ban nhân dân huyện Phú T cấp ng y 09 tháng 01 năm 2012, do ông ưu Văn D1 đứng tên với diện tích 4.396m2 thuộc thửa 340, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại khóm 5, th trấn Cái Đôi V m, huyện Phú Tân, tỉnh C Mau.
5. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân h ng nông nghiệp v phát triển nông thôn Việt Nam. Buộc ông ưu Văn D1 trả cho Ngân h ng nông nghiệp v phát triển nông thôn Việt Nam số tiền gốc v lãi đến ng y 03 tháng 7 năm 2018 với số tiền 67.612.500 đồng.
Ngo i ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi h nh án, án phí, quyền kháng cáo theo luật đ nh.
Ng y 10.7.2018, b Nguyễn Th H kháng cáo to n bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông ưu Văn Đắng v hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đắng do tờ sang nhượng n y l giả mạo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: B Nguyễn Th H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh C Mau phát biểu: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến h nh đúng theo quy đ nh của pháp luật tố tụng v các đương sự cũng chấp h nh đúng với quyền v nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy đ nh. Về nội dung:Đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của b Nguyễn Th H , giữ nguyên bản ánsơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét yêu cầu kháng cáo của b Nguyễn Th H cho rằng không chấp nhận với bản án sơ thẩm, đề ngh sửa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đắng, đề ngh hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đắng, vì l giả mạo chữ ký vợ chồng b H để chiếm đoạt t i sản, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Xét thấy vụ án tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm v o năm 2009 l không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của ông ưu Ngọc Đắng, buộc ông ê Ngọc H1 phải trả lại cho ông ưu Ngọc Đắng 5.000.000 đồng. Đến năm 2010, Tòa án nhân dân tỉnh C Mau tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 có nghĩa vụ giao cho ông ưu Văn D1 phần đất có diện tích thực tế 4.396m2 (có sơ đồ kèm theo). Ông D1 có quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy đ nh pháp luật, kiến ngh Ủy ban nhân dân huyện Phú T điều chỉnh lại Giấy CNQSDĐcủa ông ê Ngọc H1 phù hợp với diện tích đã giao đất cho ông ưu Văn D1.Buộc ông ê Ngọc H1 có nghĩa vụ trả cho Ngân h ng Nông nghiệp v phát triển nông thôn chi nhánh huyện Phú Tân số tiền vay 74.000.000 đồng v lãi suất theo hợp đồng tín dụng ng y 03/9/2008 giữa Ngân h ng với ông H1. Đến năm 2013 Tòa án nhân dân tối cao hủy cả 02 Bản án sơ thẩm v phúc thẩm nên trên, liên quan đến phần đất tranh chấp theo hợp đồng, quyết đ nh giám đốc thẩm nhận đ nh: Cần công nhận một phần hợp đồng chuy n nhượng quyền sử dụng đất đối v i phần đất ông Đ ng đã làm nhà và xây dựng công trình. Đối v i phần đất phần đất còn lại là vô hiệu, buộc các đương sự trả lại cho nhau những gì đã nhận và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu tương ứng v i số tiền mà ông Đ ng đã đưa cho ông Hiếu. Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng chuy n nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ ng và ông Hiếu vô biệu, chỉ buộc ông Hiếu trả ông Đ ng 5.000.000 đồng là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông Hiếu, bà Hà phải giao 4.396m2 đất cho ông Đ ng c ng không đúng.
Sau khi thụ lý lại vụ án, quá trình giải quyết vụ án, ông D1 v n cho rằng v o ng y 24 tháng 12 năm 1995 vợ chồng ông H1, bà H2 có chuyển nhượng cho ông 17.564m2 đất với giá 12.500.000 đồng, đất tọa lạc tại khóm 5, th trấn Cái Đôi V m huyện Phú Tân, tỉnh C Mau, ông đã trả trước cho ông H1, bà H2 5.000.000 đồng v thỏa thuận khi n o ho n th nh thủ tục chuyển nhượng sẽ trả đủ số tiền còn lại, vấn đề n y trong quá trình giải quyết vụ án ông H1, bà H2 thừa nhận. Ông D1 cho rằng đến ng y 19 tháng 12 năm 1996 ông H1 thay đổi ý kiến không thống nhất với thỏa thuận ban đầu m chỉ đồng ý chuyển nhượng cho ông diện tích tương ứng với số tiền 5.000.000 đồng ông H1, bà H2 đã nhận tương ứng với phần đất diện tích 4.396m2, hai bên có l m giấy tay v ông D1 đã nhận đất quản lý sử dụng cho đến nay. Ông H1, bà H2 cho rằng khi l m giấy tay chuyển nhượng đất đã giao cho ông D1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không l m thủ tục chuyển nhượng nên ông, b không tiếp tục chuyển nhượng đất cho ông D1, còn 5.000.000 đồng l tiền đặt cọc ông D1 không l m thủ chuyển nhượng nên đã mất tiền cọc. Ông H1, bà H2 không thừa nhận ký tên v o giấy sang nhượng ng y 19 tháng 12 năm 1996, do m u chữ ký không ổn đ nh nên cơ quan giám đ nh không tiến h nh giám đ nh được. Ông H1, bà H2 cho rằng đất ông D1 sử dụng l ông D1 mượn của ông H1, bà H2 nhưng ông H1, bà H2 không cung cấp được t i liệu, chứng cứ chứng minh việc ông D1 mượn đất.
Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H1 với ông D1 xác lập ng y 24 tháng 12 năm 1995 diện tích chuyển nhượng 17.564m2 với giá 12.500.000 đồng.Như vậy, 1m2 tương đương khoảng 711,683 đồng. Ông D1 cho rằng v o ng y 19 tháng 12 năm 1996 ông H1, bà H2 không đồng ý chuyển nhượng to n bộ diện tích như thỏa thuận ban đầu m chỉ chuyển nhượng v giao đất cho ông diện tích 4.396m2 tương ứng với số tiền đã nhận l 5.000.000 đồng (mỗi mét vuông l 1.137 đồng). Xét thấy, mặc dù vợ chồng ông H1, bà H2 không thừa nhận có ký tên tờ sang nhượng ng y 19 tháng 12 năm 1996 nhưng việc trình b y ông D1 l có cơ sở vì 1m2 tương đương khoảng 711,683 đồng, thì 4.396m2 tương đương với 3.128.545 đồng, số tiền n y ít hơn số tiền ông H1, bà H2 nhận của ông D1. Đồng thời ông D1 đã nhận đất sử dụng từ năm 1996 đến nay, ông D1 đã đầu tư cải tạo l m sân phơi v cho cháu là ưu Văn V mượn đất l m nh ở. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận rằng vợ chồng ông H1, bà H2 chuyển nhượng cho ông D1 phần đất có diện tích 4.396m2 l thực tế có xảy ra. Tại thời điểm ông H1, bà H2 chuyển nhượng đất cho ông D1, thì ông H1 - bà H2 đã được Ủy ban nhân dân huyện Cái Nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 2004 ông H1, bà H2 đã đổi Giấy CNQSDĐ nên đã được Ủy ban nhân dân huyện Phú T cấp lại Giấy CNQSDĐ. Đến năm 2009 ông H1, bà H2 thế chấp Giấy CNQSDĐ cho Ngân h ng để vay tiền. Theo quy đ nh tại điểm b3, tiểu mục2.3 mục 2 phần 2 Ngh quyết số 02/2004 ng y 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao v Bộ luật dân sự năm 1995 thì thời điểm tranh chấp ông H1 đã được cấp Giấy CNQSDĐ, nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ vi phạm về hình thức. ẽ ra, phải buộc hai bên ho n tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong một thời gian nhất đ nh, nếu bên n o không tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thì lỗi thuộc về bên đó, nhưng do vợ chồng ông H1 đã thế chấp to n bộ diện tích đất n y cho Ngân h ng để vay tiền nên không thể thực hiện được quy đ nh về hình thức của hợp đồng. Do thực tế ông D1 đã đầu tư xây dựng công trình l m sân phơi v cho cháu mượn đất để l m nh ở. Và, theo nhận đ nh của Quyết đ nh giám đốc thẩm khi hủy án giao về giải quyết lại,thì cần công nhận một phần hợp đồng đối với phần đất ông D1 đã xây dựng l m sân phơi có diện tích theo đo đạc thực tế l 717,8m2. Vì vậy, cần buộc ông H1 - bà H2 có nghĩa vụ giao cho ông D1 phần đất 717,8m2 l phù hợp. Đối với phần còn lại của hợp đồng b vô hiệu do vi phạm hình thức, nên cần hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông ưu Văn D1 với ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 đối với phần đất diện tích 3.678,2m2. Ông Đắng được quyền đăng ký lại quyền sử dụng đất theodiện tích 717,8m2l phù hợp với quy đ nh pháp luật.
Về hậu quả của phần hợp đồng b vô hiệu: Theo Điều 139 của Bộ luật dân sự năm 1995 thì bên có lỗi l m giao d ch dân sự vô hiệu phải bồi thường thiệt hại. Cả ông D1 và ông H1 điều có lỗi d n đến giao d ch dân sự vô hiệu, vì khi chuyển nhượng các bên không l m thủ tục chuyển nhượng theo đúng quy đ nh của pháp luật. Đối với phần diện tích 3.678,2m2, tại biên bản về việc thỏa thuận giá ng y 21 tháng 3 năm 2018 giữa ông D1 và bà H2 xác đ nh phần đất đang tranh chấp 1m2 có giá th trường l 1.200.000 đồng việc thỏa thuận giá n y l phù hợp với quy đ nh của pháp luật tố tụng dân sự.Diện tích 3.678,2m2 x 1.200.000 đồng = 4.413.840.000 đồng. Tại cấp phúc thẩm, b Nguyễn Th H khẳng đ nh không có yêu cầu đ nh giá phần đất tranh chấp. Như vậy, thiệt hại của ông D1 l 4.413.840.000 đồng – (3.678,2m2 x 1.137 đồng) = 4.409.657.886 đồng. Án sơ thẩm xác đ nh ông D1 và ông H1 - bà H2 có lỗi ngang nhau, nên ông D1 phải ch u 50% thiệt hại. Do đó, buộc ông H1, bà H2 phải bồi thường thiệt hại cho ông D1 số tiền 2.204.828.943 đồng l có cơ sở.
Do việc cấp Giấy CNQSDĐ của ông ưu Văn D1 căn cứ v o Bản án dân sự phúc thẩm số: 73/2010/DS-PT ngày 07 tháng 05 năm 2010 của Tòa án nhân dân tỉnh C Mau v bản án phúc thẩm nêu trên đã b hủy, nên cần hủy Giấy CNQSDĐ ký hiệu BI 352034 do Ủy ban nhân dân huyện Phú T cấp ng y 09 tháng 01 năm 2012 cho ông ưu Văn D1 l phù hợp với quy đ nh pháp luật.
Đối với yêu cầu độc lập của Ngân h ng Nông nghiệp v Phát triển Nông thôn Việt Nam: Ông D1 đã thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền Ngân h ng với số tiền gốc 30.000.000 đồng. Ngân h ng yêu cầu ông D1 trả tiền gốc v lãi đến ng y 03 tháng 7 năm 2018 với số tiền 67.612.500 đồng. Xét thấy, số tiền vay của ông D1 đã quá hạn thanh toán v Giấy CNQSDĐcủa ông D1 b hủy nên yêu cầu của Ngân hàng l có cơ sở chấp nhận.Đối với việc yêu cầu ông D1trả lãi phát sinh sau ng y 03 tháng 7 năm 2018 đến khi trả hết nợ gốc: Yêu cầu n y của Ngân h ng l phù hợp với quy đ nh của pháp luật v hợp đồng cho vay giữa các bên đã ký kết. Căn cứ v o Án lệ số: 08/2016/A được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ng y 17 tháng 10 năm 2016 v được công bố theo quyết đ nh số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì ông D1 có trách nhiệm trả lãi phát sinh theo hợp đồng giữa các bên đã ký kết kể từ ng y 04 tháng 7 năm 2018 cho đến khi trả hết nợ gốc. Khi vay vốn, ông D1 thực tế đã giao Giấy CNQSDĐcho Ngân hàn,g nhưng không có ký hợp đồng thế chấp theo quy đ nh; dot i sản chưa đăng ký thế chấp, nên cấp sơ thẩm đã không đặt ra việc xử lý t i sản quyền sử dụng đất của ông D1 l phù hợp. Mặt khác, án sơ thẩm tuyên xử hủy to n bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Đắng đứng tên, nhưng Ngân h ng không có kháng cáo, hay có ý kiến phản đối gì. Do vậy, việc nắm giữ Giấy CNQSDĐ của ông Đắng tại Ngân h ng sẽ không còn giá tr pháp lý, khi Giấy CNQSDĐ đất đứng tên ông D1 b hủy theo quyết đ nh của bản án(có hiệu lực thi h nh).
Đối với việc ông H1, bà H2 có thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền Ngân h ng, Tòa án đã thông báo thụ lý cho Ngân h ng nhưng Ngân h ng không nộp đơn yêu cầu v không nộp tạm ứng án phí nên không xem xét.
Đối với căn nh của ông V, bà Q3 cất trên phần đất giao cho ông D1, ông D1 không yêu cầu ông V bà Q3 di dời nên không xem xét. Nếu sau n y các đương sự không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác.
Đối với căn nh của ông Q2, bà M2 cất trên đất của ông H1, bà H2, ông H1 bà H2 không yêu cầu di dời nên không xem xét. Nếu sau n y các đương sự không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác. Đối với ông T2, bà D2, bà K, ông T3, bà N1, ông N2, bà P, ông Q1, ông M1, ông T4 có xây dựng một phần công trình trên phần đất của ông H1, bà H2, ông H1, bà H2 không yêu cầu ông T2, bà D2, bà K, ông T3, bà N1, ông N2, bà P, ông Q1, ông M1, ông T4 tháo dở công trình để trả lại đất nên không xem xét. Nếu sau n y các đương sự không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác. Tại mảnh trích đo đ a chính ng y 18 tháng 4 năm 2016 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú Tân thì ông Nguyễn Văn Ngọt có xây dựng công trình trên phần đất của ông H1, bà H2 với diện tích 9,2m2 nhưng tại biên bản thẩm đ nh tại chỗ ng y 16 tháng 11 năm 2017 thì ông Ngọt đã tháo dỡ công trình xây dựng lấn phần đất của ông H1, bà H2 nên không xem xét.
Từ phân tích trên, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của b Nguyễn Th H . Cần giữ nguyênBản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh C Mau phát biểu: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của b Nguyễn Th H , đề ngh giữ nguyên bản án sơ thẩm l phù hợp.
Về chi phí tố tụng: Đo đạc v đ nh giá, ông Đắng đã dự nộp xong. Từ cấp sơ thẩm ông Đắng đã không đề ngh đặt ra trách nhiệm ho n trả đối với b đơn, nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Về án phí sơ thẩm v phúc thẩm: Ông Lê Ngọc Hiếu (Hiển) l người cao tuổi, nhưng tại cấp sơ thẩm ông Hiếu không có đơn xin miễn án phí, nên ông Hiếu không được miễn án phí l phù hợp.Sau khi án sơ thẩm xử xong, ông Hiếu không có kháng cáo, chỉ có b H kháng cáo (b H không thuộc trường hợp được miễn án phí), vì vậy ông ê Ngọc Hiếu – b Nguyễn Th H cùng phải ch u án phí sơ thẩm v phúc thẩm theo quy đ nh chung của pháp luật.
Những quyết đ nh khác của án sơ thẩm không b kháng cáo, có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý v sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của b Nguyễn Th H . Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2018/DS-ST ngày 9 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh C Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông ưu Văn D1. Công nhận một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông ưu Văn D1 với ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 phần đất có diện tích 717,8m2. Buộc ông H1, bà H2 có nghĩa vụ giao cho ông D1 phần đất có diện tích 717,8m2 tọa lạc tại khóm 5, th trấn Cái Đôi V m, huyện Phú Tân, tỉnh C Mau. V trí tứ cận tiếp giáp:
+ Đông giáp phần đất ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 dài 23,87m.
+ Tây giáp phần đất ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 dài 24,10m.
+ Nam giáp phần đất ông Cao Minh Trí, ông Trần Văn Dân, ông ưu Văn D1 dài 31,66m.
+ Bắc giáp phần đất ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 dài 31,66m.
Ông ưu Văn Đắng có quyền đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích 717,8m2 (k m theo bản trích đo).
2. Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông ưu Văn D1 với ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 phần đất có diện tích 3.678,2m2.
3. Buộc ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại cho ông ưu Văn D1 số tiền 2.204.828.943 đồng (hai tỷ hai trăm lẽ bốn triệu tám trăm hai mươi tám ngàn chín trăm bốn mươi ba đồng).
K t ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu số BI 352034 của Ủy ban nhân dân huyện Phú T cấp ng y 09 tháng 01 năm 2012 cho ông ưu Văn D1 với diện tích 4.396m2 thuộc thửa 340 tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại khóm 5, th trấn Cái Đôi V m, huyện Phú Tân, tỉnh C Mau.
5. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân h ng nông nghiệp v phát triển nông thôn Việt Nam. Buộc ông ưu Văn D1 trả cho Ngân h ng nông nghiệp v phát triển nông thôn Việt Nam số tiền gốc v lãi đến ng y 03 tháng 7 năm 2018 với số tiền 67.612.500 đồng.
K t ngày 4 tháng 7 năm 2018 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi và tiền lãi quá hạn của số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay theo t ng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng vay theo quyết định của Tòa án c ng được điều chỉnh cho phù hợp v i sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
6. Về án phí:
- n phí sơ thẩm:Ngân hàng nông nghiệp v phát triển nông thôn chi nh nh huyện Phú Tân tỉnh C Mau không phải ch u, đã dự nộp1.653.500 đồng, theo biên lai thu tiền số 0007052 ng y 04 tháng 5 năm 2018 của Chi cục thi h nh án dân sự huyện Phú Tân, Ngân h ng nông nghiệp v phát triển nông thôn Chi nhánh huyện Phú Tân tỉnh C Mau được nhận lại.
+ Buộc ông D1 phải ch u án phí dân sự sơ thẩm 200.000 đồng v án phí dân sự có giá ngạch 3.380.625 đồng, ông D1 đã dự nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0006822 ng y 28 tháng 11 năm 2017 của Chi cục thi h nh án dân sự huyện Phú Tân được đối trừ chuyển thu, ông D1 phải nộp tiếp 3.280.625 đồng.
+ Buộc ông ê Ngọc H1 và bà Nguyễn Th H2 phải ch u án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch l 76.096.578 đồng (chưa nộp).
- n phí phúc thẩm: B Nguyễn Th H phải ch u 300.000 đồng, đã dự nộp theo biên lai số: 0007165 ng y 10/7/2018 tại Chi cục thi h nh án dân sự huyện Phú Tân chuyển thu đối trừ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Những quyết đ nh khác của án sơ thẩm không b kháng cáo, có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh C Mau - Tòa án nhân dân huyện Phú Tân; - Chi cục THADS huyện Phú Tân; - Các đương sự - ưu hồ sơ - ưu án văn - ưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hu nh V n Út |