vanban.org

Bản án 194/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn anh Trịnh Hoàng Q đối với bị đơn chị Phạm Thị Thu H. Anh Q được ly hôn với chị H.

Về con chung: Giao con chung là cháu Trịnh Minh K, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2021 cho anh Trịnh Hoàng Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; chị Phạm Thị Thu H tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Trịnh Hoàng Q; BĐ: Phạm Thị Thu H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn anh Trịnh Hoàng Q đối với bị đơn chị Phạm Thị Thu H. Anh Q được ly hôn với chị H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 6 - 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thiều Thị Phi Loan;

2. Ông Trần Văn Chánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 676/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 223/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trịnh Hoàng Q, sinh năm: 1993.

Địa chỉ: Số nhà A N, tổ B, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Chị Phạm Thị Thu H, sinh năm: 1998.

Địa chỉ: Số nhà A N, tổ B, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Anh Q, chị H vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trịnh Hoàng Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị Thu H tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 82/2019 ngày 03 tháng 10 năm 2019. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không thống nhất được quan điểm sống, đời sống chung của cả hai trở nên ngột ngạt. Mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả.

Nhận thấy mâu thuẫn không còn khả năng hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích xây dựng gia đình không đạt được. Vì vậy, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh và chị H có 01 con chung là cháu Trịnh Minh K, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2021. Khi ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K cho đến khi cháu thành niên và có đủ khả năng lao động theo quy định của pháp luật; tạm thời anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Anh và chị H không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Anh và chị H không có nợ chung.

Bị đơn chị Phạm Thị Thu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền, xác định tư cách đương sự, quan hệ pháp luật và việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định; Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo đảm theo quy định của pháp luật. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Q được ly hôn với chị H; Về con chung: Giao con chung là cháu Trịnh Minh K, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2021 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và tạm thời chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết sau nếu các đương sự có yêu cầu; Về án phí sơ thẩm: Anh Q phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về tư cách tố tụng, quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Anh Trịnh Hoàng Q có đơn yêu cầu ly hôn với chị Phạm Thị Thu H, địa chỉ: Số nhà A N, tổ B, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và yêu cầu Tòa án xác định người trực tiếp nuôi con chung khi ly hôn. Căn cứ theo quy định tại các điều 28, 35, 39 và 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, anh Q được xác định là nguyên đơn, chị H được xác định là bị đơn trong vụ án; quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự:

Nguyên đơn anh Trịnh Hoàng Q đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Phạm Thị Thu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Q, chị H theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Q và chị H tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 82/2019 ngày 03 tháng 10 năm 2019 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại các điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Theo lời khai của anh Q trong quá trình giải quyết vụ án: Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong vấn đề tình cảm, bên cạnh đó quan điểm sống của hai vợ chồng không đồng nhất, vì vậy vợ chồng thường xuyên cãi nhau, dẫn đến xung đột và không tôn trọng lẫn nhau. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nên nhiều lần vợ chồng đã ngồi lại với nhau để tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Anh xác định tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

Xét thấy, tại biên bản xác minh ngày 04 tháng 4 năm 2024, Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai xác định không biết về mâu thuẫn giữa vợ chồng anh Q, chị H do các đương sự không trình báo địa phương giải quyết. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo quy định cho chị H nhưng chị H không đến làm việc, tham gia tố tụng cũng như tham gia phiên tòa. Việc này thể hiện chị H đã không còn quan tâm và không muốn hàn gắn, hòa giải để hai vợ chồng đoàn tụ. Mâu thuẫn giữa anh Q và chị H là có thật, trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Q đối với chị H.

Về con chung: Anh Q xác định anh và chị H có 01 con chung là cháu Trịnh Minh K, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2021. Khi ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu K, tạm thời không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, cháu K còn nhỏ, hiện nay đang sống cùng với gia đình anh Q và được gia đình anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; đồng thời anh Q có thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K. Vì vậy, để tránh ảnh hưởng đến tâm sinh lý, sự phát triển của con chung nên Hội đồng xét xử giao cháu K cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Q xác định anh và chị H không có tài sản chung và không có nợ chung; chị H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có lời khai nên không đủ cơ sở xác định đối với phần tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này và tách ra giải quyết bằng vụ việc khác khi các đương sự có yêu cầu đối với phần tài sản chung, nợ chung.

Về án phí: Anh Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 68, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83, 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật số: 97/2015/QH13, ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc Hội; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q1.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn anh Trịnh Hoàng Q đối với bị đơn chị Phạm Thị Thu H. Anh Q được ly hôn với chị H.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trịnh Minh K, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2021 cho anh Trịnh Hoàng Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; chị Phạm Thị Thu H tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này. Tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí: Anh Trịnh Hoàng Q phải nộp 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0003035 ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa. Hoàn trả lại cho anh Q số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu trên.

5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự và các điều 7, 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.

Cỡ chữ