- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 phạm tội “Trốn thuế”; - phạm tội trốn thuế (điều 200 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 phạm tội “Trốn thuế”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 194/2023/HSST Ngày : 11/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THA NH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phƣơng;
Các Hội thẩm nhân dân:1/ Ông Lê Ngọc Thanh
2/ Bà Trần Quang Cảnh
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tƣờng Vi à Thƣ ý Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh à Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 11 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 211/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 221/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN BỈNH K; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1989 tại Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ý hộ hẩu thƣờng trú: 27/25/3 N, phƣờng T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 27/25/3 N, phƣờng T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Con ông Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; Vợ: Hoàng Thị Kim K, sinh năm 1992; Con: có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi hỏi nơi cƣ trú;
(có mặt tại phiên toà)
Ngƣời bào chữa cho bị cáo à Luật sƣ Phạm Bảo A thuộc Công ty Luật trách nhiệm hữu một thành viên Ati aw.
Địa chỉ: Tầng trệt căn nhà số D S, Phƣờng A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có mặt tại phiên tòa)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Mai Xuân T1, sinh năm 1986; địa chỉ: căn hộ B chung cƣ Đ, số B T, phƣờng H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
2/ Ông Nguyễn Thành V, sinh năm 1989; địa chỉ: căn hộ B chung cƣ C V, Phƣờng A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh;
3/ Bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang;
(ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ iên quan vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Công ty TNHH Q tặng Cao cấp Hai a thành ập từ ngày 20/01/2016 có trụ sở tại địa chỉ 2 N, phƣờng T, quận T, ngành nghề inh doanh à mua bán hàng quà tặng các oại, hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ý inh doanh số 0313629558 do Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Thành phố H cấp do Nguyễn Bỉnh K1 à ngƣời đại diện theo pháp luật trực tiếp quản ý và điều hành toàn bộ hoạt động của Công ty, đăng ý ê khai thuế tại Chi cục thuế quận T.
Trong quá trình điều tra vụ án “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nƣớc” theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 434/QĐ ngày 04/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an quận T phát hiện Công ty Q có hành vi sử dụng 15 số hóa đơn giá trị tăng (GTGT) hống để kê khai thuế đầu vào cho số hàng hóa hông hóa đơn chứng từ, cụ thể:
Hóa đơn, chứng từ,
biên lai nộp thuế
Giá trị
HHDV
Thuế
Tổng giá trị
Ngày,
Tên công ty Mã số thuế
Ghi STT
mua vào
GTGT
hàng hóa có
tháng,
xuất hóa đơn người bán
chú
Số hóa
chưa có thuế
(đồng)
thuế (đồng)
năm
đơn
(đồng)
lập hóa
đơn
CÔNG TY
TNHH
THƢƠNG 1 0000291 02/11/2018
0313739180
54.000.000 5.400.000 59.400.000
MẠI DỊCH
VỤ TÂN
GIANG
CÔNG TY
TNHH
THƢƠNG 2 0000314 08/11/2018
0313739180 148.800.000 14.880.000 163.680.000
MẠI DỊCH
VỤ TÂN
GIANG
CÔNG TY
TNHH TM
DV QUẢNG 3 0001519 01/09/2020 CÁO
0315127955 380.000.000 38.000.000 418.000.000
TRUYỀN
THÔNG
CAO VŨ
CÔNG TY
TNHH TM
DV QUẢNG 4 0000783 30/11/2019 CÁO
0315127955
50.000.000 5.000.000 55.000.000
TRUYỀN
THÔNG
CAO VŨ
CÔNG TY 5 0000084 13/06/2018
0314318509 225.500.000 22.550.000 248.050.000
TNHH SẢN
XUẤT TM
DV TẤN
NGHĨA
CÔNG TY
TNHH SẢN 6 0000095 25/06/2018 XUẤT TM
0314318509 270.000.000 27.000.000 297.000.000
DV TẤN
NGHĨA
CÔNG TY
TNHH SẢN 7 0001626 01/08/2019 XUẤT TM
0314318509 308.700.000 30.870.000 339.570.000
DV TẤN
NGHĨA
CÔNG TY
TNHH SẢN 8 0001809 09/09/2019 XUẤT TM
0314318509 117.220.000 11.722.000 128.942.000
DV TẤN
NGHĨA
CÔNG TY
TNHH SẢN 9 0001119 06/04/2019 XUẤT TM
0314318509
15.000.000 1.500.000 16.500.000
DV TẤN
NGHĨA
CÔNG TY
TNHH TM
DV XNK 10 0001777 17/12/2018
0313019249
22.000.000 2.200.000 24.200.000
MAY MẶC
PHÚC
TRUNG
CÔNG TY
TNHH TM
DV XNK 11 0001820 14/01/2019
0313019249 120.000.000 12.000.000 132.000.000
MAY MẶC
PHÚC
TRUNG
CÔNG TY
TNHH TM
DV XNK 12 0000091 10/06/2019
0313019249 621.250.000 62.125.000 683.375.000
MAY MẶC
PHÚC
TRUNG
CÔNG TY
TNHH TM
DV XNK 13 0000117 24/06/2019
0313019249 594.040.000 59.404.000 653.444.000
MAY MẶC
PHÚC
TRUNG
CÔNG TY
TNHH TM
DV XNK 14 0000128 30/06/2019
0313019249
9.000.000
900.000
9.900.000
MAY MẶC
PHÚC
TRUNG
CÔNG TY
TNHH TM
DV XNK 15 0000150 08/07/2019
0313019249 724.908.000 72.490.800 797.398.800
MAY MẶC
PHÚC
TRUNG Tổng
3.660.418.000 366.041.800 4.026.459.800
Quá trình điều tra xác định những công ty xuất 15 hóa đơn nói trên đều do Mai Xuân T1 thành lập để bán trái phép hóa đơn GTGT thu ợi bất chính. Toàn bộ 15 số hóa đơn trên do Nguyễn Thành V mua lại của T1 và bán cho Nguyễn Thị Yến N. Sau đó, N đã bán số hóa đơn trên cho Nguyễn Bỉnh K1. Tại cơ quan điều tra, Mai Xuân T1, Nguyễn Thành V, Nguyễn Thị Yến N đã hai nhận toàn bộ hành vi vi phạm nhƣ trên.
Đối với Nguyễn Bỉnh K1 khai quen biết Nguyễn Thị Yến N là kế toán của Công ty N1 thông qua bà Trần Thị Ngọc V1 à giám đốc của Công ty N1. Trong quá trình sản xuất inh doanh, K1 đã không yêu cầu đơn vị cung cấp màng nhựa P xuất hóa đơn đầu vào dẫn đến việc thiếu hóa đơn đầu vào. Để hợp pháp hóa hàng hóa đầu vào cho Công ty Q và làm giảm số tiền thuế Công ty Q phải nộp với cơ quan thuế, K1 đã liên hệ với N để mua hóa đơn GTGT hống. Sau hi trao đổi và thống nhất về số ƣợng và đơn giá của các mặt hàng à áo mƣa, dù cầm tay, nón bảo hiểm, N sẽ xuất hóa đơn theo yêu cầu và chụp hình gửi qua Z cho K1 èm số tài hoản ngân hàng của Công ty xuất hóa đơn. Sau đó, K1 sẽ thanh toán tiền theo giá trị hóa đơn bằng hình thức chuyển hoản từ tài hoản ngân hàng V2 số 0441000703911 của Công ty Q. Sau đó, Nhƣ sẽ đƣa tiền mặt hoặc sử dụng tài khoản ngân hàng A1 số 81988 của Nhƣ để chuyển trả lại cho K1 số tiền đã thanh toán theo hóa đơn sau hi đã trừ phí mua (từ 08% đến 09% giá trị hàng hóa trƣớc thuế) vào tài khoản ngân hàng A1 số 216621839 tên Hoàng Thị Kim K (là vợ của K1). Từ năm 2018 đến năm 2020, K1 đã mua của Nguyễn Thị Yến N tổng cộng 15 số hóa đơn GTGT hống nhƣ trên và đƣa cho ế toán là Phan Thị Mỹ H1 để kê khai thuế đầu vào của Công ty Q cho cơ quan thuế từ năm 2018 đến năm 2020. Việc mua 15 số hóa đơn hống trên để kê khai thuế K1 thực hiện một mình, không có ai biết và hông có ai giúp sức.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Bỉnh K1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ trên.
Theo kết luận giám định về giám định tƣ pháp trong ĩnh vực thuế ngày 02/8/2023 do giám định viên Nguyễn Thị Thanh T2 - thuộc Chi cục thuế quận T thực hiện, ết uận: Đối tƣợng giám định đã mua trái phép các hóa đơn giá trị giá tăng (hóa đơn hông có hàng hóa đi èm) à hóa đơn bất hợp pháp để kê khai khấu trừ thuế GTGT và kê khai các khoản chi đƣợc trừ hi xác định thu nhập chịu thuế TNDN là hành vi trốn thuế với số tiền thuế trốn 907.339.962 đồng, trong đó: Thuế GTGT: 330.982.576 đồng, thuế TNDN: 576.357.386 đồng (Bút lục 80 - 83)
* Về phần dân sự: Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Bỉnh K1 đã hắc phục hậu quả nộp vào ngân sách Nhà nƣớc tổng số tiền 833.620.655 đồng (Bút ục 52 - 53).
Tại Bản Cáo trạng số 206/CT-VKS ngày 07/11/2023 của Viện iểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 về tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 thành hẩn hai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo đƣợc hƣởng mức hình phạt thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội cho rằng: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ iên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 206/CT-VKS ngày 07/11/2023 của Viện iểm sát nhân dân quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 về tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) à có căn cứ, đúng pháp uật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 200; các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 mức án từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời hạn thử thách từ 02 đến 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, hông áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết các nghĩa vụ dân sự và vật chứng theo quy định của pháp luật;
Ngƣời bào chữa cho bị cáo là luật sƣ Phạm Bảo A thống nhất với ời trình bày của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đề nghị cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp nhất theo nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 thành hẩn hai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết uận:
Từ năm 2018 đến năm 2020, Nguyễn Bỉnh K1 à giám đốc của Công ty TNHH Q có trụ sở tại địa chỉ 2 N, phƣờng T, quận T, đã có hành vi mua trái phép 15 số hoá đơn giá trị gia tăng (đã đƣợc ghi đầy đủ nội dung) nhằm hợp thức cho số hàng hóa, dịch vụ đầu vào hông có hóa đơn giá trị gia tăng để kê khai thuế đầu vào cho Công ty TNHH Q trong các kỳ kê khai thuế năm 2018, 2019 tại Chi cục thuế quận T, thành phố Hồ Chí Minh làm giảm số thuế phải nộp cho ngân sách nhà nƣớc với số tiền trốn thuế à 907.339.962 đồng (trong đó thuế giá trị gia tăng là 330.982.576 đồng, thuế thu nhập doanh nghiệp là 576.357.386 đồng) thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 đã cấu thành tội “Trốn thuế”, tội danh và hình phạt đƣợc quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do đó, có đủ cơ sở để xác định Cáo trạng số 206/CT-VKS ngày 07/11/2023 của Viện iểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 về tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) à có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp uật.
Đối với Mai Xuân T1, Nguyễn Thành V, Nguyễn Thị Yến N đã bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nƣớc” quy định tại Điều 203 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Đối với chị Phan Thị Mỹ H1 là ế toán của Công ty Q từ năm 2016 đến đầu năm 2023 thì Công ty Q giải thể. Toàn bộ sổ sách, hóa đơn, chứng từ, sổ sách kế toán đều do H1 quản ý. H1 cũng à ngƣời kê khai, quyết toán thuế với cơ quan thuế. Từ năm 2018 đến năm 2020, bị can Nguyễn Bỉnh K1 đã đƣa cho H1 15 số hóa đơn nhƣ trên để ê hai hàng hóa đầu vào của Công ty Q cho cơ quan thuế. H1 hoàn toàn không biết về nguồn gốc các hóa đơn này, hông biết việc bị can K1 sử dụng các hóa đơn trên để trốn thuế nên cơ quan điều tra không xử lý đối với H1 về hành vi này.
Đối với chị Hoàng Thị Kim K (vợ của K1) cho K1 mƣợn tài khoản ngân hàng để sử dụng vào công việc inh doanh. Chị K không biết việc K1 sử dụng tài khoản trên để nhận lại số tiền hợp thức hóa mua 15 số hóa đơn hống trên nhằm trốn thuế nên không có cơ sở để xử ý K về hành vi trốn thuế với vai trò đồng phạm.
Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết có ảnh hƣởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo à nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách, quy định của Nhà nƣớc về quản ý các oại thuế, xâm phạm tới ợi ích của Nhà nƣớc trong hoạt động thu thuế, nộp ngân sách cho Nhà nƣớc. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng ực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ đƣợc hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm minh để trừng trị, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, đấu tranh phòng, chống các tội phạm xâm phạm về trật tự quản ý inh tế.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Không có;
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 thành hẩn hai nhận hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã tích cực hắc phục phần ớn số tiền bị cáo đã trốn thuế; bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt. Đây à các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng, có thể cho bị cáo đƣợc cải tạo ngoài xã hội, dƣới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phƣơng cũng đủ tác dụng cải tạo, răn đe bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), do đó nghĩ không cần thiết cách y bị cáo ra hỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo có ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo không tiếp tục phạm tội, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nƣớc đối với ngƣời phạm tội.
* Về biện pháp tƣ pháp: Quá trình điều tra xác định bị cáo có hành vi trốn thuế với số tiền trốn thuế à 907.339.962 đồng và đã chủ động nộp vào Ngân sách Nhà nƣớc số tiền 833.620.655 đồng để khắc phụ hậu quả. Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục buộc bị cáo K1 nộp lại số tiền 73.719.307 (bảy mƣơi ba triệu bảy trăm mƣời chín ngàn ba trăm ẻ bảy) đồng là số tiền thuế bị cáo chƣa nộp đủ để sung vào Ngân sách Nhà nƣớc;
Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất vụ án và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí và quyền háng cáo:
Bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngƣời tham gia tố tụng khác có quyền háng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 phạm tội “Trốn thuế”;
* Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 200; các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 01 (một) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phƣờng T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp các bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự;
Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 ần trở ên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo. Trƣờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt của bản án trƣớc và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc số tiền 833.620.655 (Tám trăm ba mƣơi ba triệu sáu trăm hai ngàn sáu trăm năm mƣơi ăm) đồng;
Buộc bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 tiếp tục nộp số tiền 73.719.307 (bảy mƣơi ba triệu bảy trăm mƣời chín ngàn ba trăm ẻ bảy) đồng;
* Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, ệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Bỉnh K1 phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền háng cáo: bị cáo Nguyễn Bỉnh K1, ngƣời bào chữa cho bị cáo có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án; những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày Toà án tống đạt/ niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
(Hội đồng xét xử đã giải thích về chế định án treo)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - Bị cáo; - Ngƣời bào chữa; - Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Công an quận Tân Phú; - VKSND quận Tân Phú; - Chi cục THADS quận Tân Phú; - Uỷ ban nhân dân phƣờng Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; - Kho bạc Nhà nƣớc quận Tân Phú; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - Phòng PC27 CATP.HCM; - Lƣu hồ sơ vụ án.Phan Huỳnh Hoàng Phương |