- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Phương L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có đóng dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự, bên trong có: 01 túi nilon zip kích thước 9,7cm x 6,3cm chứa chất bột…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 194/2023/HS-ST Ngày 21-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Phạm Thị Bấm
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Nhật Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 185/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 744/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Phương L, sinh ngày 07 tháng 8 năm 1981 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: Phố C, phường G, quận N, Hải Phòng; nơi tạm trú: Phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Phương S (đã chết) và bà Đoàn Thị C; có vợ là Trịnh Thị M (đã chết) và có 01 con; tiền án: Tại Bản án số 69/HSST ngày 09/7/2002, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 646/HSST ngày 16/9/2004, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 183/HSST ngày 12/9/2006, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 10/2010/HSST ngày 28/4/2010, Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 105/2014/HSST ngày 26/9/2014, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 17/4/2023; tạm giam ngày 20/4/2023; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trần Bá V; vắng mặt.
- Điều tra viên:
+ Ông Phạm Đức H - Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Cán bộ điều tra:
+ Ông Nguyễn Minh T - Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Cảnh sát hình sự - Công an phường Cầu Tre:
+ Ông Nguyễn Hoài Đ - Công an phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Ông Đoàn Văn N - Công an phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Ông Trần Khắc T - Công an phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Ông Lê Quang T1 - Công an phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 17/4/2023, tại trước cửa số 23/317 đường Đà Nẵng, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Công an phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng bắt quả tang Trần Phương L có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý, thu giữ 01 gói nilon kích thước khoảng 01cm x 02cm, bên trong chứa chất bột màu trắng ở dưới đất ngay chỗ Lợi đứng.
Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Lợi tại số 7/258 đường Đà Nẵng, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến ma tuý.
Tại Kết luận giám định số 345/KL-KTHS(MT) ngày 19 tháng 4 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,24 gam, loại: Heroine. Kết quả xét nghiệm nước tiểu ngày 17/4/2023 của Trần Phương L dương tính với chất ma túy Morphine/Heroine.
Tại Cơ quan Công an, Trần Phương L khai nhận: Do nghiện ma tuý heroine nên Trần Phương L nảy sinh ý định mua ma tuý heroine về để sử dụng cho bản thân. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 17/4/2023, Lợi một mình đi bộ từ nhà đến khu vực đường tàu Bình Hải, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma tuý. Lợi gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 100.000 đồng ma tuý được 01 gói nilon kích thước khoảng 01cm x 02cm, bên trong chứa chất bột màu trắng là ma tuý Heroine. Lợi cầm gói ma tuý vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 08 giờ 50 phút cùng ngày, khi Lợi đi đến khu vực trước cửa nhà số 23/317 đường Đà Nẵng, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thì bị Công an phường Cầu Tre phát hiện, kiểm tra. Do sợ hãi, Lợi đã vội thả gói ma tuý đang cầm trong tay xuống đất. Cơ quan Công an đã thu giữ vật chứng, dẫn giải Lợi về trụ sở làm việc.
Tại Biên bản ghi lời khai hồi 09 giờ 30 phút ngày 17/4/2023 tại trụ sở Công an phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Biên bản ghi lời khai hồi 18 giờ 00 phút ngày 17/4/2023 tại trụ sở Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Biên bản hỏi cung bị can hồi 14 giờ 00 phút ngày 19/4/2023 tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng, Bản tự khai ngày 17/4/2023, ngày 19/4/2023, Trần Phương L khai nhận hành vi của mình như trên.
Các ngày 28/6/2023, ngày 04/7/2023 và ngày 01/8/2023, Trần Phương L từ chối làm việc với Cơ quan điều tra. Ngày 15/11/2023, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền tiến hành hỏi cung đối với Trần Phương L, Lợi khai gói nilon chứa ma tuý heroine không phải của Lợi. Kết quả xét nghiệm ma tuý trong nước tiểu không phải của Lợi. Những lời khai và bản tự khai nhận tội ban đầu là do trong quá trình điều tra, Lợi bị Công an phường Cầu Tre và Công an quận Ngô Quyền đánh đập, ép cung. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của Lợi 01 chiếc xe máy Sirius màu đen (Lợi không nhớ biển kiểm soát) và 01 điện thoại OPPO A71 ốp lưng màu xanh.
Tại phiếu khám sức khoẻ người bị tạm giữ, người bị tạm giam do Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng lập ngày 17/4/2023, Trần Phương L có sức khoẻ ổn định, không có dấu vết thương tích khi kiểm tra thân thể. Triệu tập Trần Phương Tuấn, sinh năm 2002; nơi đăng ký thường trú: Số 21/191 đường Hàng Kênh, phường Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng là cháu của Lợi đến Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền làm việc, Tuấn khẳng định ngày 17/4/2023, điện thoại và xe máy Sirius của Lợi để tại nhà trọ của Lợi. Trích xuất dữ liệu thư tín, điện tín số điện thoại 0376153840 của Trần Phương L, ngày 17/04/2023 không phát sinh cột sóng tại Công an phường Cầu Tre, Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Sau thời điểm Lợi bị bắt quả tang, điện thoại của Lợi phát sinh nhiều cuộc gọi đến và cuộc gọi đi ở nhiều nơi khác nhau (từ ngày 22/04/2023 đến ngày 25/4/2023 phát sinh cột sóng liên lạc tại Hà Nội).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 381 ngày 11/9/2023 về việc giám định dấu vết sinh vật đối với 01 gói nilon màu trắng, mép túi có viền màu xanh. Tại Kết luận giám định số 155/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng ngày 10/10/2023 kết luận: Trên túi nilon gửi giám định có dấu vết tế bào lẫn của nhiều người - không có giá trị truy nguyên cá thể.
Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong có đóng dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự, bên trong có: 01 túi nilon zip kích thước 9,7cm x 6,3cm chứa chất bột màu trắng là 0,17 gam ma tuý heroine hoàn lại sau giám định, mép túi có viền màu đỏ; 01 vỏ phong bì ghi mẫu vật hoàn trả và có đóng dấu niêm phong số 345MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự CATP Hải Phòng, có chữ ký, chữ viết của Trần Thị Thu Huyền, Trần Phương L, Trần Bá V; 01 vỏ phong bì thư có các chữ ký, chữ viết người niêm phong Nguyễn Hoài Đức, người chứng kiến Trần Bá V, đương sự Trần Phương L, phong bì đã cắt mép; 01 phong bì niêm phong có đóng dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự chứa 01 túi nilon màu trắng (dạng túi zip) kích thước 2,3cm x 2cm, mép túi có viền màu xanh (mẫu giám định dấu vết sinh vật) chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quản lý.
Tại Bản Cáo trạng số 195/CT-VKSNQ ngày 23/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Trần Phương L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Trần Phương L không nhận tội. Bị cáo khai gói nilon chứa ma tuý heroine không phải của bị cáo; kết quả xét nghiệm ma tuý trong nước tiểu không phải của bị cáo; những lời khai và bản tự khai nhận tội ban đầu là do trong quá trình điều tra, bị cáo bị Công an phường Cầu Tre và Công an quận Ngô Quyền đánh đập, ép cung. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của bị cáo 01 chiếc xe máy Sirius màu đen và 01 điện thoại OPPO A71 ốp lưng màu xanh. Tuy nhiên, bị cáo không đưa ra được căn cứ chứng minh những nội dung đã trình bày.
Các Điều tra viên và Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, các Cảnh sát hình sự - Công an phường Cầu Tre được triệu tập đến phiên tòa đều khẳng định các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa là không đúng và không có căn cứ. Việc bắt giữ bị cáo cùng tang vật, việc lấy mẫu nước tiểu xét nghiệm, kết quả xét nghiệm và những lời khai và bản tự khai nhận tội ban đầu của bị cáo đã được thực hiện đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Việc bị cáo khai bị đánh đập, ép cung và Cơ quan Công an còn thu giữ của bị cáo 01 chiếc xe máy Sirius màu đen và 01 điện thoại OPPO A71 là không có căn cứ.
Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Phương L với mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, Lợi khai gói nilon chứa ma tuý heroine không phải của Lợi; kết quả xét nghiệm ma tuý trong nước tiểu không phải của Lợi; những lời khai và bản tự khai nhận tội ban đầu là do trong quá trình điều tra, Lợi bị Công an phường Cầu Tre và Công an quận Ngô Quyền đánh đập, ép cung và Cơ quan Công an còn thu giữ của Lợi 01 chiếc xe máy Sirius màu đen và 01 điện thoại OPPO A71 ốp lưng màu xanh. Tuy nhiên, những nội dung Trần Phương L khiếu nại, tố cáo đã được Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và Công an quận Ngô Quyền giải quyết theo trình tự giải quyết khiếu nại, tố cáo và đã xác định việc khiếu nại, tố cáo của Trần Phương L là không có căn cứ. Tại phiên tòa, bị cáo cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh nội dung tố cáo là có căn cứ. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không nhận tội. Tuy nhiên, căn cứ phiếu khám sức khoẻ người bị tạm giữ, người bị tạm giam do Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng lập ngày 17/4/2023, Trần Phương L có sức khoẻ ổn định, không có dấu vết thương tích khi kiểm tra thân thể và lời khai nhận tội ban đầu của Trần Phương L phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến cùng vật chứng thu giữ, kết luận giám định, biên bản xét nghiệm chất ma tuý, dữ liệu ghi âm ghi hình nên đủ cơ sở để xác định: Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 17/4/2023 tại trước cửa nhà số 23/317 đường Đà Nẵng, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Trần Phương L đã có hành vi cất giấu trái phép 0,24 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo Trần Phương L có 05 tiền án đều chưa được xóa án nên lần phạm tội này, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Bị cáo có nhân thân xấu, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không nhận tội nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về việc xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ vật chứng là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ là 01 phong bì niêm phong có đóng dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự, bên trong có: 01 túi nilon zip kích thước 9,7cm x 6,3cm chứa chất bột màu trắng là 0,17 gam ma tuý heroine hoàn lại sau giám định, mép túi có viền màu đỏ; 01 vỏ phong bì ghi mẫu vật hoàn trả và có đóng dấu niêm phong số 345MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự CATP Hải Phòng, có chữ ký, chữ viết của Trần Thị Thu Huyền, Trần Phương L, Trần Bá V; 01 vỏ phong bì thư có các chữ ký, chữ viết người niêm phong Nguyễn Hoài Đức, người chứng kiến Trần Bá V, đương sự Trần Phương L, phong bì đã cắt mép; 01 phong bì niêm phong có đóng dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự chứa 01 túi nilon màu trắng (dạng túi zip) kích thước 2,3cm x 2cm, mép túi có viền màu xanh (mẫu giám định dấu vết sinh vật).
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Trần Phương L, Cơ quan điều tra chưa xác định được căn cước, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Phương L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 17/4/2023.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có đóng dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự, bên trong có: 01 túi nilon zip kích thước 9,7cm x 6,3cm chứa chất bột màu trắng là 0,17 gam ma tuý heroine hoàn lại sau giám định, mép túi có viền màu đỏ; 01 vỏ phong bì ghi mẫu vật hoàn trả và có đóng dấu niêm phong số 345MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự CATP Hải Phòng, có chữ ký, chữ viết của Trần Thị Thu Huyền, Trần Phương L, Trần Bá V; 01 vỏ phong bì thư có các chữ ký, chữ viết người niêm phong Nguyễn Hoài Đức, người chứng kiến Trần Bá V, đương sự Trần Phương L, phong bì đã cắt mép; 01 phong bì niêm phong có đóng dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự chứa 01 túi nilon màu trắng (dạng túi zip) kích thước 2,3cm x 2cm, mép túi có viền màu xanh (mẫu giám định dấu vết sinh vật) theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Trần Phương L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Trần Phương L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - Công an quận Ngô Quyền; - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hảo |