vanban.org

Bản án 194/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 19/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. 2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy H phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2022/HS-PT
Ngày: 19-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Nguyên.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân.

Ông Lê Văn Duy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Trường là Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 166/2022/TLPT-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Duy H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 189/2022/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Duy H, sinh năm 1967 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; nơi ĐKHKTT: Tổ 22, khu vực 5, phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định; chỗ ở: Tổ 47, khu vực 9, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Ngọc C (đã chết) và bà: Ma Thị Ngọc S (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 25/12/1990, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghĩa Bình đình chỉ điều tra bị can về hành vi “Xuất cảnh trái phép”; ngày 12,13/7/1991, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử tuyên phạt 15 tháng tù về tội “Xuất cảnh trái phép”; ngày 26/4/1997, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội: “Buôn lậu”; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, còn có bị cáo Nguyễn Duy H1 không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 24/11/2021, Nguyễn Duy H1 đang uống nước cùng Ma Trọng H2 tại nhà số 85 L, thành phố Q thì Nguyễn Duy H (anh ruột của H1) gọi điện thoại cho H1 nói ngôi nhà đang tranh chấp với ông Ma Trọng H3 (tại tổ 49, khu phố 9, phường H, thành phố Q) có người đang thi công. Vì cho rằng ông H3 xây nhà trái phép trước khu nhà từ đường của dòng họ nên H1 gọi cho Nguyễn Duy V (cháu ruột H và H1) cùng H2 đến nhà ông H3 ngăn cản không cho xây dựng; H3 và V đồng ý đi cùng.

H1 và H2 đến nhà đang xây dựng của ông H3 trước, thấy không có ai đang thi công nên H1 lên tầng 2 nhà ông H3 ném vật tư xây dựng xuống biển, rồi cùng H2 vào nhà bà Nguyễn Thị H cạnh đó để uống nước. Sau đó, H cũng đến nhà bà H gặp H1 và H2. Lúc này, sau khi nghe bà H nói việc nhóm H1 đến ném sắt nhà mình nên ông H3 cầm 01 cây gỗ, Nguyễn Thị Mỹ N (con dâu ông H3) cầm 01 cây sắt đi ra. Cùng lúc này, V đang đứng gần đó. Cho rằng V đi cùng H1 nên N dùng cây sắt đánh 01 cái vào sau đầu của V. V chạy đi tới quán nước bà H thì gặp nhóm H1. V kể lại việc bị đánh cho H1 nghe thì ông H3 cùng Ma Trọng H4 (con nuôi ông H4) và N đi đến. H1 chạy ra khỏi quán rồi cầm đá ném về phía H4 thì H4 và N đi đến chỗ H1. H2 thấy vậy nên chạy đến can ngăn N, đẩy N lùi về sau. V đi đến hỏi N: “Nãy sao bà đánh tui?” và định đánh nhưng được H2 can lại. H4 và H1 xô xát, giằng co với nhau rồi cùng ôm vật nhau xuống đường. Ông H3 thấy H cầm 01 cây sắt đi đến chỗ H4 nên ông H3 đi đến dùng cây gậy tre đánh H thì bị H dùng cây sắt đánh vào vùng đầu ông H3 gây thương tích. Sau đó, H quay qua thấy H1 và H4 đang ôm nhau giằng co nên dùng cây sắt đánh 01 cái vào vùng trán của H4 gây thương tích. Lúc này người dân hô hoán nên hai bên bỏ đi. Hậu quả: Ma Trọng H3 và Ma Trọng H4 bị thương tích, được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định và có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 63 ngày 28/3/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Bình Định kết luận: Các vết thương vùng đỉnh không tổn thương sọ, nội sọ, gây đau đầu đã điều trị. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Ma Trọng H3 là 08%.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 64 ngày 28/3/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Bình Định kết luận: Vết thương vùng trán gây đau đầu, không tổn thương sọ, nội sọ đã điều trị. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Ma Trọng H4 là 07%.

Về dân sự: Bị hại Ma Trọng H3 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường 8.490.960 đồng. Bị hại Ma Trọng H4 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường 7.858.511 đồng. Các bị cáo thống nhất bồi thường theo yêu cầu của các bị hại.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 189/2022/HSST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào các điểm a, c khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Duy H1, về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, quyền và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022, bị cáo Nguyễn Duy H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định và đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Duy H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai giữa gia đình các bị cáo Nguyễn Duy H1, Nguyễn Duy H với ông Ma Trọng H3. Nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 24/11/2022, khi Nguyễn Duy H1 đang ngồi uống cà phê với anh Ma Trọng H2 thì Nguyễn Duy H đã gọi điện thoại cho H1 thông báo việc ngôi nhà đang tranh chấp ở tổ 49, khu phố 9, phường H, thành phố Q có người đang thi công. Sau đó, các bị cáo đã cùng với Ma Trọng H2, Nguyễn Duy V (là cháu của các bị cáo) đến khu vực ngôi nhà nói trên. Tại đây, giữa nhóm các bị cáo với gia đình ông Ma Trọng H3 (sinh năm 1948) đã xảy ra cãi nhau và được anh H2 can ngăn. Bị cáo H1 và ông Ma Trọng H4 (là con nuôi ông H3) tiếp tục xô xát, giằng co rồi ôm vật nhau xuống đường. Bị cáo H đã dùng cây sắt đánh vào đầu ông H3 và dùng cây sắt tiếp tục đánh vào trái của anh H4 gây thương tích. Theo các Bản kết luận giám định pháp y số 63, 64 ngày 28/3/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Định thì tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của ông Ma Trọng H3 là 08% và tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Ma Trọng H4 là 07%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Duy H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, c khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Duy H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến nhân thân của bị cáo và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại để khắc phục một phần hậu quả quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không đưa ra được chứng cứ, tình tiết gì mới để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung tội phạm.

Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV thì kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy H không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các điểm a, c khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

1.2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

2. Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ