vanban.org

Bản án 194/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 07/09/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận háng cáo của ông Huỳnh Công A và bà Vương Thị H .

Sửa bản án sơ thẩm về phần án phí. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích N đối với ông Huỳnh Công A và bà Vương Thị H về tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "tranh chấp Hợp đồng đặt cọc"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận háng cáo của ông Huỳnh Công A và bà Vương Thị H .
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 129 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194 /2022/DS-PT
Ngày: 07-9-2022
“V/v tranh chấp Hợp đồng
đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu

Bà Trần Thị Kim Sang

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Hậu Thư T a án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở T a án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số: 229/2022/TLPT-DS ngày 17 tháng 8 năm 2022 về tranh chấp: “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc”

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2022/DS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2022 của T a án nhân dân huyện GD , tỉnh Tây Ninh bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234 /2022/QĐ-PT ngày 18 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích N sinh năm 1980. Địa chỉ: KP3/69A, Nội B, thị trấn GD, huyện GD , tỉnh Tây Ninh.(có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Huỳnh Công A , sinh năm 1963. Địa chỉ: Số 70, khu phố Rạch Sơn thị trấn GD, huyện GD , tỉnh Tây Ninh; (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vương Thị H sinh năm 1963. Địa chỉ: Số 70, khu phố Rạch Sơn thị trấn GD, huyện GD , tỉnh Tây Ninh; (có mặt)

Người háng cáo: bị đơn ông Huỳnh Công A , Bà Vương Thị H .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Bích N trình bày:

Vào ngày 20-6-2021 bà Nguyễn Thị Bích N và ông Huỳnh Công A có

kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sự dụng đất đối với phần đất diện tích 790,6m2 thuộc thửa số 1395, tờ bản đồ số 27, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00341/6061/2003/HD-CN(HL), do UBND huyện GD cấp ngày 16-9-2003 cho bà Vương Thị H (vợ ông A ) đứng tên tọa lạc tại ấp Trâm Vàng 1 xã Thanh Phước, huyện GD , tỉnh Tây Ninh với giá chuyển nhượng là 8.400.000.000 đồng (tám tỷ bốn trăm triệu đồng), bà N đã đặt cọc cho ông A số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), thỏa thuận trong thời hạn 45 ngày ể từ ngày hợp đồng đặt cọc hai bên sẽ tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng công chứng theo quy định pháp luật thì bà N sẽ giao đủ số tiền 8.300.000.000 đồng (tám tỷ ba trăm triệu đồng) c n lại cho ông A , hợp đồng đặt cọc có giao cho ông A mang về nhà cho bà Vương Thị H vợ ông A là người đứng tên giấy đất tên nhưng bà H hông có tên tại hợp đồng đặt cọc ngày 20-6-2021. Đến ngày 11-7-2021 bà N cùng người làm chứng có đến nhà ông A gặp ông A xin hông tiếp tục thực hiện hợp đồng do tình hình dịch bệnh Covid 19 nên hông gôm đủ tiền và ông A đồng trả lại tiền cọc cho bà N . Sau đó ông A thay đổi hông đồng trả lại tiền cọc cho bà N . Đối với phần đất trên do bà Vương Thị H vợ ông A đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông A là người đứng ra trực tiếp giao dịch chuyển nhượng, hông có thủ tục ủy quyền của bà H nên giao dịch trên là hông tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật và hiện nay phần đất này vợ chồng ông A đã chuyển nhượng cho người hác. Nay bà N yêu cầu vợ chồng ông A và bà H phải trả lại số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) hông yêu cầu tính lãi suất. Ngoài ra bà N hông có yêu cầu gì hác.

Bị đơn ông Huỳnh Công A trình bày:

Vào ngày 20-6-2021, giữa ông A và bà N có

ết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất do bà H vợ ông A đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như bà N trình bày là đúng. Nhưng trong thời hạn 45 ngày bà N và người làm chứng có đến nhà yêu cầu hông tiếp tục thực hiện hợp đồng trên nhưng ông A hông đồng phần đất đã chuyển nhượng do vợ ông là bà H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00341/6061/2003/HD-CN(HL), do UBND huyện GD cấp ngày 16-9-2003 đất tọa lạc tại ấp Trâm Vàng 1 xã Thanh Phước, huyện GD , tỉnh Tây Ninh là tài sản chung của vợ chồng nên ông là người trực tiếp đứng ra chuyển nhượng. Do bà N hông thực hiện hợp đồng nên ông A hông đồng trả lại số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Ngoài ra, ông A hông có yêu cầu gì hác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vương Thị H trình bày:

Bà H thống nhất lời trình bày của ông A , bà H hông có trình bày bổ sung gì thêm. Ngoài ra bà H hông có yêu cầu gì hác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2022/DS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2022 của T a án nhân dân huyện GD , tỉnh Tây Ninh, đã xử:

Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 408 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí T a án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích N đối với ông Huỳnh Công A và bà Vương Thị H về “tranh chấp Hợp đồng đặt cọc”.

Tuyên bố hợp đồng đặt cọc giữa bà Nguyễn Thị Bích N và ông Huỳnh Công A ngày 20-6-2021 đối với phần đất có diện tích 790 6m2 thuộc thửa số 1395, tờ bản đồ số 27, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00341/6061/2003/HD-CN(HL), do UBND huyện GD cấp ngày 16-9-2003 cho bà Vương Thị H đứng tên đất tọa lạc tại ấp Trâm Vàng 1 xã Thanh Phước, huyện GD , tỉnh Tây Ninh là vô hiệu.

Buộc ông Huỳnh Công A và bà Vương Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Bích N số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bà N có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông A , bà H hông thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng ông A , bà H c n phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: ông A , bà H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Hoàn trả cho bà N số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0023944 ngày 06-01-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện GD , tỉnh Tây Ninh.

Ngày 15-7-2022 và ngày 27-7-2022, ông Huỳnh Công A và bà Vương Thị H có đơn háng cáo và háng cáo bổ sung toàn bộ bản án sơ thẩm l do: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích N, ông bà được quyền sở hữu số tiền 100.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

+ Ông Huỳnh Công A giữ nguyên nội dung háng cáo và trình bày như sau: Ông hông đồng với bản án sơ thẩm của T a án nhân dân huyện GD và hông đồng trả lại cọc với các l do:

- Phần đất sang nhượng là của chung vợ chồng ông đã đăng bản bán đất, có ghi số điện thoại của ông.

- Vợ ông là bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2003 nhưng bản án cấp sơ thẩm xác định vào năm 2017 là hông đúng.

- Bà N là người đặt tiền cọc để mua đất nhưng do gom tiền hông đủ, bị gạt nên xin hông thực hiện hợp đồng có nhờ ông T và ông L đến nhà để yêu cầu hông thực hiện hợp đồng nhưng ông hông đồng . Theo nội dung hợp đồng đặt cọc cũng ghi rõ nếu vợ chồng ông hông bán thì sẽ đền tiền cọc gấp đôi.

+ Bà Vương Thị H trình bày: Diện tích đât sang nhượng là thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà do bà đứng tên chồng bà là người giấy đặt cọc. Khi giao dịch bà N hông yêu cầu bà tên và hi giao dịch có 2 người làm chứng là ông L và ông T (ông T là người công tác ở cơ quan pháp luật) nên bà tin tưởng nên hông hợp đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm thư tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ l đến khi xét xử vụ án.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận háng cáo của ông A và bà H . Căn cứ vào hoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ ý kiến của đương sự, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Sau hi xét xử sơ thẩm ngày 15-7-2022 và ngày 27-7-2022, ông Huỳnh Công A và bà Vương Thị H háng cáo và đơn háng cáo bổ sung, qua xem xét trình tự thủ tục háng cáo phù hợp với quy định tại Điều 271 Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xem xét háng cáo của bị đơn Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo Hợp đồng đặt cọc ngày 20-6-2021 thể hiện nội dung bên bán là bà Vương Thị H bên mua là bà Nguyễn Thị Bích N và 2 người làm chứng là ông Nguyễn Văn Lấn và Nguyễn Văn Tâm tên bên mua và người làm chứng c n ông Huỳnh Công A

tên bên bán là mâu thuẫn với phần trên của hợp đồng là bên bán bà Vương Thị H .

Tại thời điểm giao dịch

ết hợp đồng đặt cọc hông có tài liệu, chứng cứ thể hiện iến của bà H là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hông đảm bảo về hình thức. Vô hiệu ngay từ hi kết hợp đồng.

Theo nội dung hợp đồng đặt cọc đến ngày 05-8-2021 các bên tiến hành công chứng, chứng thực hợp đồng nhưng do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nên ngày 11-7-2021 bà N cùng 2 người làm chứng có đến nhà ông A yêu cầu hông thực hiện hợp đồng và yêu cầu nhận lại tiền cọc, ông A đã đồng có 2 người làm chứng xác nhận. Mặt hác trước trong và sau hi hợp đồng đặt cọc bà N và bà H chưa gặp nhau để thỏa thuận phương thức thanh toán....Do đó giao dịch giữa ông A và bà N hông đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp l về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại khoản 2 Điều 117 của Bộ luật Dân sự.

Do đó giao dịch vô hiệu theo Điều 129 của Bộ luật Dân sự và xử l hợp đồng vô hiệu theo Điều 131 của Bộ luật Dân sự; Điều 166; Điều 167 Luật Đất đai.

Từ những nhận định trên hông có căn cứ chấp nhận háng cáo của ông A , bà H .

Về án phí: Cấp sơ thẩm buộc ông A , bà H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hông có giá ngạch về tranh chấp hợp đồng là phù hợp. Tuy nhiên phía ông A , bà H hông đồng trả số tiền đặt cọc và bị buộc trả lại số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng thì ông bà phải chịu 5% án phí trên số tiền 100.000.000 đồng là 5.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm hông áp dụng là thiếu sót cần điều chỉnh bổ sung.

Án phí dân sự sơ thẩm: ông Huỳnh Công A và bà Vương Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng và 5.000.000 đồng, tổng cộng 5.300.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Bích N hông phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà N số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0023944 ngày 06-01-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện GD , tỉnh Tây Ninh.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Công A và Bà Vương Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Ghi nhận đã nộp xong theo biên lai thu số 0024524 ngày 18-7-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện GD , tỉnh Tây Ninh.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ hoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận háng cáo của ông Huỳnh Công A và bà Vương Thị H .

Sửa bản án sơ thẩm về phần án phí.

2. Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 117; Điều 129; Điều 131 của Bộ luật Dân sự; Điều 166; Điều 167 Luật Đất đai; Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí T a án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích N đối với ông Huỳnh Công A và bà Vương Thị H về tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”.

Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 20-6-2021 giữa bà Nguyễn Thị Bích N và ông Huỳnh Công A đối với phần đất có diện tích 790 6m2 thuộc thửa số 1395, tờ bản đồ số 27, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00341/6061/2003/HD-CN(HL), do UBND huyện GD cấp ngày 16-9-2003 cho bà Vương Thị H đứng tên đất tọa lạc tại ấp Trâm Vàng 1 xã Thanh Phước, huyện GD , tỉnh Tây Ninh là vô hiệu.

Buộc ông Huỳnh Công A và bà Vương Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Bích N số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Huỳnh Công A và bà Vương Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn) án phí hông có giá ngạch và 5.000.000 (năm triệu) đồng án phí có giá ngạch, tổng cộng 5.300.000 đồng (năm triệu ba trăm ngàn).

Bà Nguyễn Thị Bích N hông phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà N số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0023944 ngày 06-01-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện GD , tỉnh Tây Ninh.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Công A và Bà Vương Thị H hông phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do sửa bản án. Hoàn trả lại cho ông A , bà H số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0024524 ngày 18-7-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện GD , tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án người phải thi hành án có quyền tự thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực thi hành nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng c n phải chịu tiền lãi suất chậm trả đối với số tiền chưa thi hành theo Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ