- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở — án dân sự — "nguyễn thị đông kiện trương thanh hùng"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 105 Luật Đất đai; Điều 136 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 194/2022/DS-PT Ngày: 31/3/2022 V/v “Tranh chấp QSDĐ và yêu cầu hủy GCN QSDĐ” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Chánh Trung
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thúy Hồng
Ông Chung Văn K t
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Thiện, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần nh ng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 429/2021/TLPT-DS ngày 13 tháng 8 năm 2021 về việc “Tranh chấp QS Đ và yêu cầu hủy CN QS Đ”.
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đông.(có m t)
Địa chỉ: Thôn Boong Rinh, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
- Bị đơn:
1/ Ông Trương Thanh Hùng. (có m t)
2/ Bà Võ Thị Lan. (có m t)
Cùng địa chỉ: Thôn Boong Rinh, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Tạm trú: Tổ 4, thị trấn Đức n, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Ngư i đại diện theo ủy quyền của bà Lan và ông Hùng: ông Đồng Văn Mão, sinh năm 1988. (có m t)
Địa chỉ: óm 2, thôn Đông ên, xã ên L m, huyện ên Mô, tỉnh Ninh Bình.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Ngư i đại diện theo ủy quyền: ông Đồng Văn iáp – Trưởng phòng TNMT huyện Đắk Song. (có đơn xin xét xử vắng m t)
Địa chỉ: Tổ 3, thị trấn Đức n, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các văn bản trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đông trình bày:
Bà Nguyễn Thị Đông được Ủy ban nhân dân (UBN ) huyện Đắk Song cấp iấy chứng nhận QS Đ số CI 451014, ngày 16/11/2017 với diện tích 23.520m2, thửa đất số 37a, t bản đồ số 02, thuộc khoảnh 5, khoảnh 6 tiểu khu 1615, tọa lạc tại thôn Boong Rinh, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, với nguồn gốc Nhà nước giao đất rừng phòng hộ để bảo vệ, phát triển rừng, mục đích sử dụng là đất rừng phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14, giấy chứng nhận thể hiện ngư i được giao đất bị hạn ch quyền, không được chuyển quyền sử dụng đất dưới mọi hình thức.
Trước khi giao đất cho các hộ dân để trồng rừng, UBN xã Nâm N’ Jang k t hợp với Hạt kiểm lâm huyện Đắk Song triển khai họp dân tại thôn 9, thôn 11 và thôn Boong Rinh nhiều lần để giao đất cho các hộ đang sử dụng đất liền kề với đất rừng để trồng rừng nhưng hộ ông Hùng cho rằng đất hiện nay không còn cây rừng nên yêu cầu giao đất để sử dụng đất với mục đích sử dụng là đất nông nghiệp, không đồng ý nhận đất để trồng rừng.
Sau khi bà Đông nhận đất để trồng rừng, thì ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan lấn chi m đất của bà Đông được giao để sử dụng, trên đất có một số cây trồng và nhà tạm được ông Hùng tạo dựng trước đó.
Vì vậy, bà Đông khởi kiện, yêu cẩu Tòa án giải quy t buộc ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan phải trả lại cho bà Đông diện tích đất lấn chi m theo đơn khởi kiện là khoảng 4.000m2. Tuy nhiên, theo k t quả đo đạc, lồng ghép diện tích thực t so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thể hiện diện tích tranh chấp là 94,7m2 nên bà Đông thay đổi yêu cầu khởi kiện, buộc ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan trả diện tích 94,7m2 nằm trong tổng diện tích đất 23.520m2 được cấp tại iấy chứng nhận QS Đ số CI 451014, ngày 16/11/2017, tại thửa đất số 37a, t bản đồ số 02, thuộc khoảnh 5, khoảnh 6 tiểu khu 1615, tọa lạc tại thôn Boong Rinh, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, đất có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông Lý, một phần giao cho bà Đông; Phía Tây giáp đất giao cho bà Đông; Phía Nam giáp đất ông Hùng, bà Lan đang sử dụng; Phía Bắc giáp đư ng Quốc lộ 14. Đồng th i, yêu cầu ông Trương Thanh Hùng, bà Võ Thị Lan tháo dỡ phần nhà, ch t cây cối và san lấp gi ng trên diện tích đất tranh chấp, trả lại nguyên trạng cho bà Nguyễn Thị Đông để trồng rừng.
Theo lời khai của bị đơn ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa:
Nguồn gốc đất mà hiện nay bà Nguyễn Thị Đông khởi kiện ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan có nguồn gốc gia đình ông Hùng khai hoang từ năm 2000 và sử dụng từ đó đ n nay, tổng diện tích khai hoang hơn 4.000m2 (bao gồm cả diện tích tranh chấp).
Năm 2006 gia đình ông Hùng xin giấy xác nhận để được đo đạc và được Chủ tịch UBN xã Nâm N’Jang xác nhận đủ điều kiện cấp iấy chứng nhận QS Đ nhưng từ đó đ n nay, thửa đất trên chưa được đo đạc, chưa kê khai để được cấp iấy chứng nhận QS Đ nên chưa có sơ đồ trong sổ địa chính.
Quá trình sử dụng đất, Hạt kiểm lâm, UBN huyện Đắk Song và một số ngư i có thẩm quyền lập biên bản về vi phạm việc quản lý và bảo vệ rừng. Khi lập biên bản về vi phạm thì nguyện vọng gia đình ông Hùng là muốn được sử dụng đất để canh tác, buôn bán nên gia đình ông Hùng đã ký vào các biên bản vi phạm, đối với thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, quy t định cưỡng ch là gia đình ông Hùng không bi t. Năm 2014, ông Hùng và bà Lan bị UBN huyện Đắk Song cưỡng ch 01 lần tháo dỡ nhà và ch t h t cây cối, năm 2015 thì gia đình ông Hùng trồng lại cây cối và dựng nhà trên phần đất đã bị cưỡng ch . M c dù bị lập biên bản vi phạm nhưng ông Hùng cho rằng đất khai hoang đã làm rẫy không còn rừng nên việc sử dụng là không trái pháp luật.
Đối với việc giao đất cho bà Đông trồng rừng, trước khi giao đất cho bà Đông thì có họp dân, các hộ dân liên quan có ý ki n là đất hộ nào giao cho hộ đó. Tuy nhiên, UBN huyện Đắk Song không thực hiện theo nội dung cuộc họp mà làm các thủ tục cấp đất cho bà Nguyễn Thị Đông. Nên ông Hùng và bà Lan không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đông.
Năm 2014, UBN huyện Đắk Song cưỡng ch đất của gia đình ông Hùng và những hộ dân gần đó, vì việc cưỡng ch đất không có quy t định thu hồi và phương án đền bù nên ông Hùng có làm đơn khi u nại đ n UBND xã Nâm N’Jang để khi u nại, sự việc kéo dài đ n năm 2017 khi chưa được giải quy t xong thì UBN huyện Đắk Song cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Đông trong đó có 94,7m2 đất của ông Hùng, bà Lan đang sử dụng. Không đồng ý với việc UBN huyện Đắk Song cấp CNQS đất cho bà Nguyễn Thị Đông nên ngày 01/6/2020 ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan có đơn phản tố, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 451014, ngày 16/11/2017, tại thửa đất số 37a, t bản đồ số 02, thuộc khoảnh 5, khoảnh 6 tiểu khu 1615, tọa lạc tại thôn Boong Rinh, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông cấp cho bà Nguyễn Thị Đông, theo biên bản lấy l i khai trong quá trình giải quỵ t vụ án và tại phiên tòa, ông Hùng và bà Lan yêu cầu Tòa án hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 94,7m2 hiện nay do ông Hùng và bà Lan sử dụng đã được cấp cho bà Nguyễn Thị Đông.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lọi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện Đắk Song, ông Đồng Văn Giáp trình bày:
Ngày 06/9/2010 UBN tỉnh Đắk Nông ban hành Quy t định số 1366/QĐ- UBND, về việc thu hồi đất của Công ty Lâm nghiệp Đắk Song giao cho Chi cục kiểm lâm và UBN huyện Đắk Song quản lý, trong đó có diện tích đất giao cho bà Nguyễn Thị Đông.
Ngày 26/10/2015 UBN huyện Đắk Song ban hành Quy t định số 944/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án giao đất, giao rừng phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14 cho các cá nhân, hộ gia đình và nhóm hộ trên địa bàn xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Ngày 28/8/2017 UBN huyện Đắk Song ban hành Quy t định số 1211/QĐ-UBND về việc giao đất, giao rừng. Trong đó giao bà Nguyễn Thị Đông diện tích 2,352 ha để sử dụng vào mục đích bảo vệ và phát triển rừng.
Ngày 16/11/2017 UBN huyện Đắk Song ban hành Quy t định số 1137/QĐ-UBN về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Đông được giao rừng phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14 để bảo vệ, phát triển rừng tại xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đồng th i cấp Giấy chứng nhận QS Đ số CI 451014 cho bà Nguyễn Thị Đông với diện tích 23.520m2, thuộc thửa đất số 37a, t bản đồ số 02, thuộc khoảnh 5, khoảnh 6 tiểu khu 1615, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông với mục đích sử dụng, đất rừng phòng hộ (cảnh quan Quốc lộ 14).
Về trình tự thủ tục UBN huyện Đắk Song giao đất, giao rừng để sử dụng vào mục đích bảo vệ và phát triển rừng và cấp CNQS đất cho bà Nguyễn Thị Đông đúng theo quy định pháp luật.
Theo lời khai của những người làm chứng, bà Trần Thị Vân; bà Phạm Thị Minh; bà Lê Thị Lài; bà Vũ Thị Nga; bà Bùi Thị Hương; bà Lê Thị Thu Thiêm; bà Trần Thị Tươi có trong hồ sơ vụ án:
Việc tranh chấp như th nào thì các chị không rõ nhưng quá trình sinh sống gần đó thì bi t được nguồn gốc đất gia đình ông Hùng khai hoang và sử dụng từ trước cho đ n nay. Bà Nguyễn Thị Đông mới đ n tại thôn Boong Rinh, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song để sinh sống. Việc ông Hùng và bà Lan sử dụng hợp pháp hay không thì những ngư i làm chứng không bi t. Tại th i điểm giao đất, giao rừng thì chính quyền địa phương và Hạt kiểm lâm huyện Đắk Song có họp dân, ông Hùng c ng như các hộ dân liền kề đều có tham gia nhưng có nguyện vọng ai khai hoang thì giao lại cho ngư i đó sử dụng và cấp đất theo quy định của luật đất đai vì lý do đất đã làm nhà ở và trồng cây cối không còn đất rừng. Nay bà Đông được giao đất để trông coi quản lý và trồng rừng những ngư i làm chứng không đồng ý.
Người làm chứng anh Trương Minh Vương trình bày: iện tích đất mà bà Đông đang khởi kiện có nguồn gốc khai hoang từ năm 2000, vào ngày 16/10/2008 ông Hùng và bà Lan có nh anh Vưong lên UBN xã Nâm N’Jang xác nhận để làm nhà. iện tích đất này là tài sản của ông Hùng và bà Lan không liên quan đ n anh Vương, lý do là anh Vương không ở đây mà đi làm ăn xa. Việc đất này có bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính không thì anh Vương không được bi t. Trong vụ án này, anh Vương yêu cầu Tòa án căn cứ vào các chứng cứ ông Hùng cung cấp giải quy t đảm bảo quyền lợi cho cha, mẹ anh theo quy định của pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2021/DS-ST ngày 18/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông quy t định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 3 Điều 155 của Bộ luật ân sự năm 2015; khoản 2 Điều 105; Điều 136 của Luật đất đai năm 2013; Điều 33; Điều 68 Nghị định số:
năm 2002; 02 cây vông trồng năm 2014 và san lấp 01 gi ng đào sâu 32,5m"đầỏ; 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi ti t thi hành một số điều của Luật đất đai; khoản 1 Điều 26 Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí tòa án, tuyên xử:
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đông.
Buộc ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan trả lại bà Nguyễn Thị Đông diện tích đất là 94,7m2, trong tổng diện tích đất 23.520m2 được cấp tại iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 451014, ngày 16/11/2017, thuộc thửa đất số 37, t bản đồ 02, thuộc khoảnh 5, khoảnh 6, tiểu khu 1615, tọa lạc tại thôn Boong Rinh, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, (có tứ cận: Phía Đông giáp đất ông Lý, một phần giáp đất giao cho bà Đông, cạnh dài 22,45m; Phía Tây giáp đất giao cho bà Đông, cạnh dài 2,45m; Phía Nam giáp đất ông Hùng, bà Lan đang sử dụng, cạnh dài 42,68m (21,27m + 21,48m); Phía B c giáp đường Quốc lộ 14, cạnh dài 26m).
Buộc ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan tháo dỡ 01 phần nhà tạm có diện tích 25,165m2 (có tứ cận Phía Đông giáp đất ông Hùng, bà Lan đang sử dụng, cạnh dài: 2,7m; Phía Tây giáp đất của bà Đông được cấp, cạnh dài 5,8m; Phía Nam giáp đất ông Hùng, cạnh dài: 2,8m; Phía B c giáp đất tranh chấp, hướng ra đường quốc lộ 14, cạnh dài 5,8m) nằm một phần trong tổng diện tích nhà tạm 28,42m2, nhà xây gạch tư ng 10, không tô, mái lợp tôn, nền xi măng, cao 2,2m, xây dựng năm 2016; ch t bỏ toàn bộ cây cối trên diện tích đất 94,7m2 gồm 25 cây chuối đang trưởng thành; 03 cây mít trồng năm 2005-2006; 02 cây bơ trồng năm 2014-2015; 01 cây gòn trồng năm 2015; 01 cây bưởi trồng năm 2014; 01 cây ổi trồng năm 2006; 01 cây xoài trồng năm 2006; 01 cây bạch đàn trồng năm 2002; 02 cây vông trồng năm 2014 và san lấp 01 i ng đào sâu 32,5m đào năm 2002, có nắp đậy bằng bê tông, đư ng kính l,2m, có xây thành cao 20cm.
Kèm theo là bản đo đạc hiện trạng thửa, đất và lồng ghép bản đồ địa chính, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/01/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ k Song.
2/ Không chấp nhận đơn phản tố của ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan về việc yêu cầu hủy một phần iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 451014, thuộc thửa đất số 37, t bản đồ 02, tiểu khu 1615, được Ủy ban nhân dân huyện Đắk Song cấp ngày 16/11/2017 tọa lạc tại thôn Boong Rinh, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông mang tên bà Nguyễn Thị Đông.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Võ Thị Lan (đồng bị đơn trong vụ án) kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử không công nhận 94,7m2 đất tranh chấp cho bà Nguyễn Thị Đông là không đúng quy định pháp luật, nên bà kháng cáo yêu cầu xem xét lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bà Lan và ngư i đại diện theo ủy quyền cho bà Lan (ông Đồng Văn Mão) vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như trên.
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lan, ông Hùng cho rằng về trình tự c ng như thủ tục mà UBN huyện Đắk Song cấp QS Đ cho bà Nguyễn Thị Đông là không đúng về trình tự và thủ tục, như: đất ông Hùng bà Lan đang đang quản lý, đất có tranh chấp mà UBN lại cấp cho bà Đông là không đúng; Luật sư còn cho rằng bà Lan có nh luật sư bảo vệ tại tòa án cấp sơ thẩm, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử không có luật sư bảo vệ cho bà Lan là vi phạm tố tụng, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, giải quy t đúng quy định pháp luật, đề nghị HĐ không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị Lan, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đối với đơn kháng cáo của bà Võ Thị Lan được làm và nộp trong th i hạn luật định nên đây là kháng cáo hợp lệ.
ét về nội dung vụ án thì thấy:
- Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đông cho rằng ngày 16/11/2017 UBN huyện Đắk Song cấp 23.520m2 đất thuộc thửa số 37a, t bản đồ số 2, thuộc khoảnh 5, khoảnh 6 tiểu khu 1615 tại thông Boong Rinh, xã Nâm N’Jang huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông trong đó có 94,7m2 đất nêu trên cho bà.
Về phía ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan thì cho rằng năm 2000 ông Hùng bà Lan khai hoang hơn 4.000m2 đất trong đó có 94,7m2 đất tranh chấp nêu trên. Ông Hùng bà Lan có xây nhà, đào gi ng nước ở trên phần đất này. UBN cấp quyền sử dụng đất diện tích 23.520m2 cho bà Đông trong đó có 94,7m2 đất mà ông Hùng bà Lan đang sử dụng. Việc UBN cấp 94,7m2 đất tranh chấp nêu trên cho bà Đông là không đúng nên ông Hùng, bà Lan phản tố yêu cầu hủy một phần CN QS Đ mà UBN đã cấp cho bà Đông đối với phần diện tích 94,7m2 đất tranh chấp hiện do ông bà đang sử dụng.
Phía UBN huyện Đắk Song do ông Đồng Văn iáp đại diện theo ủy quyền thì cho rằng cả bà Đông và ông Hùng, bà Lan trước đây có chi m đất của công ty Lâm nghiệp Đắk Song quản lý. Thực hiện theo tinh thần giao đất cho những ngư i có chi m đất để thực hiện việc trồng rừng, nên ngày 26/10/2015 UBN huyện Đắk Song có Quy t định số 944/QĐ-UBN về việc phê duyệt giao đất cho các hộ dân ti p tục quản lý để trồng rừng. ựa trên các đơn xin nhận đất của ngư i dân, việc xét đề nghị giao đất của UBN xã Nâm N’Jang, ngày 28/8/2017 UBN huyện Đắk Song có Quy t định số 1211/QĐ-UBN giao 2,532 ha đất cho bà Nguyễn Thị Đông quản lý sử dụng để trồng rừng và ngày 16/11/2017 UBN cấp CN QS Đ số CI 451014 cấp 23.520m2 đất cho bà Đông. Việc UBN cấp QS Đ cho bà Đông nêu trên là đúng, nên UB không đồng ý theo yêu cầu phản tố của ông Hùng, bà Lan đòi hủy một phần CN QS Đ cấp cho bà Nguyễn Thị Đông nêu trên.
HĐ xét thấy:
Cả bà Đông và ông Hùng, bà Lan trước đây có chi m đất của công ty Lâm nghiệp Đắk Song quản lý. UBN huyện Đắk Song có ra quy t định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Đông, ông Hùng, bà Lan và ra quy t định buộc tháo dỡ công trình, cây trồng trên đất.
Đối với phần đất ông Hùng, bà Lan chi m được công ty Lâm nghiệp Đắk Song lập biên bản các lần như: ngày 22/3/2006; ngày 12/10/2007; ngày 01/01/2008; ngày 19/01/2009; ngày 19/02/2009; ngày 04/3/2010. Ngày 28/4/2009 UBN huyện Đắk Song có quy t định số 476/QĐ-UBN xử phạt hành chính đối với ông Hùng bà Lan số tiền 500.000 đồng và buộc tháo dỡ công trình, cây trồng trên đất; Ngày 12/6/2009 UBN có quy t định số 909/QĐ-UBN về việc cưỡng ch buộc tháo dỡ công trình trên đất; Ngày 02/10/2013 UBN huyện Đắk Song có quy t định số 1080/QĐ-UBN về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc tháo dỡ công trình trên đất; Ngày 11/11/2013 UBN huyện Đắk Song có quy t định số 1310/QĐ-UBN về việc cưỡng ch thi hành Quy t định số 1080/QĐ-UBN như trên. o ông Hùng bà Lan khóa cửa nhà nên đoàn cưỡng ch b khóa, thống kê tài sản bị cưỡng ch , giao tài sản bị cưỡng ch cho bà Lan quản lý (theo sự thừa nhận của ngư i đại diện cho bà Lan tại phiên tòa).
Sau khi UBN huyện Đắk Song quản lý đất do UBN tỉnh Đắk Nông giao thì ngày 26/11/2015 UBN huyện Đắk Song ban hành quy t định số 944/QĐ-UBN về việc phê duyệt phương án giao đất, giao rừng phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14 cho cá nhân, hộ gia đình trên địa bàn xã Nâm N’Jang theo đơn xin nhận đất của các hộ dân được xã Nâm N’Jang phê duyệt đề xuất, nên ngày 28/8/2017 UBN huyện Đắk Song có quy t định số 1211/QĐ-UBN về việc giao đất và quy t định số 1137/QĐ-UBN về việc cấp CN QS Đ cho bà Nguyễn Thị Đông. Theo hồ sơ thì bà Nguyễn Thị Đông có đăng ký xin nhận đất để trồng rừng, còn phía ông Hùng, bà Lan thì không có đăng ký xin nhận đất để trồng rừng nên UBN huyện Đắk Song ra quy t định giao đất cho bà Đông trong đó có 94,7m2 đất tranh chấp như trên. Việc UBN huyện Đắk Song cấp quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Đông như trên là đúng theo trình tự, thủ tục cấp QS Đ, nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử công nhận 94,7m2 đất tranh chấp nêu trên được UBN huyện Đắk Song cấp QS Đ cho bà Đông là thuộc quyền sử dụng của bà Đông; ử buộc ông Hùng bà Lan phải tháo dỡ công trình, cây trồng trên đất để giao lại phần đất nêu trên cho bà Đông là có căn cứ.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Hùng bà Lan cho rằng đất ông Hùng bà Lan đang quản lý, có tranh chấp mà UBN lại cấp QS Đ cho bà Đông là không đúng theo trình tự cấp đất. HĐ xét thấy: vào th i điểm trên thì đất đang do UBN huyện Đắk Song quản lý, chưa cấp cho ai, ông Hùng bà Lan không có quyền quản lý, sử dụng phần đất trên. o ông Hùng bà Lan không có đơn xin nhận đất để trồng rừng vào th i điểm trên nên UBN không xét giao đất c ng như cấp QS Đ cho ông Hùng bà Lan là đúng.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Hùng bà Lan còn cho rằng ông Hùng bà Lan có yêu cầu Luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi cho ông bà tại Tòa án cấp sơ thẩm, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không có luật sư nên đề nghị hủy án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại. HĐ xét thấy: sau khi bản án phúc thẩm do Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xử hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song để xét xử sơ thẩm lại, thì khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quy t lại vụ án ông Hùng bà Lan không có yêu cầu luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình, luật sư c ng không có làm thủ tục đăng ký bảo vệ cho ông Hùng bà Lan khi giải quy t lại tại cấp sơ thẩm, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Hùng bà Lan không có nh luật sư bảo vệ quyền lợi và xét xử như trên là đúng, nên c ng không chấp nhận theo đề nghị của luật sư để hủy bản án sơ thẩm.
o bản án sơ thẩm xét xử như trên là đúng, nên HĐ không chấp nhận theo yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị Lan.
- Chấp nhận theo quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà Võ Thị Lan thuộc diện được miễn án phí nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Lan.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị Lan.
- iữ nguyên bản án sơ thẩm xử.
[2] - Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 3 Điều 155 của Bộ luật ân sự năm 2015; khoản 2 Điều 105; Điều 136 của Luật đất đai năm 2013; Điều 33; Điều 68 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi ti t thi hành một số điều của Luật đất đai; khoản 1 Điều 26 Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đông.
- Buộc ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan trả lại bà Nguyễn Thị Đông diện tích đất là 94,7m2, trong tổng diện tích đất 23.520m2 được cấp tại iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 451014, ngày 16/11/2017, thuộc thửa đất số 37, t bản đồ 02, thuộc khoảnh 5, khoảnh 6, tiểu khu 1615, tọa lạc tại thôn Boong Rinh, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, (có tứ cận: Phía Đông giáp đất ông Lý, một phần giáp đất giao cho bà Đông, cạnh dài 22,45m; Phía Tây giáp đất giao cho bà Đông, cạnh dài 2,45m; Phía Nam giáp đất ông Hùng, bà Lan đang sử dụng, cạnh dài 42,68m (21,27m + 21,48m); Phía B c giáp đường Quốc lộ 14, cạnh dài 26m).
- Buộc ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan tháo dỡ một phần nhà tạm có diện tích 25,165m2 (có tứ cận Phía Đông giáp đất ông Hùng, bà Lan đang sử dụng, cạnh dài: 2,7m; Phía Tây giáp đất của bà Đông được cấp, cạnh dài 5,8m; Phía Nam giáp đất ông Hùng, cạnh dài: 2,8m; Phía B c giáp đất tranh chấp, hướng ra đường quốc lộ 14, cạnh dài 5,8m) nằm một phần trong tổng diện tích nhà tạm 28,42m2, nhà xây gạch tư ng 10, không tô, mái lợp tôn, nền xi măng, cao 2,2m, xây dựng năm 2016; ch t bỏ toàn bộ cây cối trên diện tích đất 94,7m2 gồm 25 cây chuối đang trưởng thành; 03 cây mít trồng năm 2005-2006; 02 cây bơ trồng năm 2014-2015; 01 cây gòn trồng năm 2015; 01 cây bưởi trồng năm 2014; 01 cây ổi trồng năm 2006; 01 cây xoài trồng năm 2006; 01 cây bạch đàn trồng năm 2002; 02 cây vông trồng năm 2014 và san lấp 01 i ng đào sâu 32,5m đào năm 2002, có nắp đậy bằng bê tông, đư ng kính l,2m, có xây thành cao 20cm.
Kèm theo là bản đo đạc hiện trạng thửa, đất và lồng ghép bản đồ địa chính, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/01/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ k Song.
2/ Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trương Thanh Hùng và bà Võ Thị Lan về việc yêu cầu hủy một phần iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 451014, thuộc thửa đất số 37, t bản đồ 02, tiểu khu 1615, được Ủy ban nhân dân huyện Đắk Song cấp ngày 16/11/2017 tọa lạc tại thôn Boong Rinh, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông mang tên bà Nguyễn Thị Đông.
- Các quy t định khác của Bản án sơ thẩm đã xét xử không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày h t th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bà Võ Thị Lan không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm (do bà Lan thuộc diện được miễn nộp án phí).
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31/3/2022.
| Nơi nhận: Tòa án nhân dân tối cao; VKSN CC tại TP.HCM; TAND tỉnh Đắk Nông; VKSND tỉnh Đắk Nông; Cục TH S tỉnh Đắk Nông; Các đương sự; Lưu, (NĐT). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Chánh Trung |