- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng N - không phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! Bản án số: 194/2021/HS-PT ! Ngày: 11-5-2021 |
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:!
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Nguyễn Văn Hà
Các"Thẩm"phán:" 1. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
2. Ông Trần Minh Châu
Thư"ký"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh
Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" thành" phố" Hồ" Chí" Minh" tham" gia" phiên"tòa:"Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên."
Ngày 11 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/TLPT-HS ngày 16/3/2021 đối với Nguyễn Hồng N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2021/HS-ST ngày 03/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị"cáo"có"kháng"cáo:"
Nguyễn! Hồng! N; giới tính: nam; sinh năm: 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; cư trú: C7A/8A, tổ 14, ấp A, xã VLB, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ văn hóa: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không có; con ông NVU (chết) và bà TTX; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: không có;
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Bị"hại:
Ông Trần Văn T. Sinh năm: 1969
Cư trú: Nhà không số, tổ 14, ấp A, xã VLB, huyện BC, Thành phố Hồ CHí Minh (có mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2016, bà Thiều Thị X bán giấy tay cho vợ chồng ông Trần Văn T và bà Thiều Thị E (em ruột bà X) 01 phần thửa đất 658 có diện tích 48m2 (ngang 4m, dài 12m) tọa lạc tổ 14, ấp A, xã VLB, huyện BC, Thành phố Hồ CHí Minh. Năm 2017, bà X tiếp tục bán cho vợ chồng ông T phần đất nối tiếp phía sau lô đất trên với diện tích 32m2 (ngang 4m, dài 8m). Sau đó vợ chồng ông T xây 01 căn nhà cấp 4 diện tích 80m2 (ngang 4m, dài 20m). Bên trái nhà ông T giáp với nhà của Nguyễn Công D (anh trai Nguyễn Hồng N, con bà X), bên phải giáp với phần đất trống còn lại của thửa 658 (bà X sử dụng làm lối đi). Vào khoảng tháng 9/2019, ông T trồng một số cây trái trong đó có 02 cây đu đủ và 01 cây vối trên phần đất trống nói trên. Ngày 10/6/2020, Nguyễn Hồng N tới nhà anh D ăn uống đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày N đã say rượu nên đòi qua chặt cây ông T trồng tại phần đất trống trên dẫn đến hai bên mâu thuẫn, cự cãi. N tức giận quay vào nhà D lấy 01 con dao dài 36cm, lưỡi bằng kim loại đến chặt đổ 02 cây đu đủ thì ông T lên tiếng ngăn cản. N cầm dao xông tới chỗ ông T thì vấp ngã khiến con dao N cầm văng tới gần chỗ ông T nên N chạy lại nhặt con dao. Ông T thấy vậy xông tới ôm, vật N, trong lúc giằng co N vung dao chém vào người ông T. Lúc này, bà E chạy tới giữ tay phải đang cầm dao của N khiến cả 3 té ngã xuống đất. Thấy vậy, D chạy tới tước dao trên tay N và kéo bà E, ông T ra khỏi người N. Lúc này, ông T dùng tay đánh vào mặt N, N cũng dùng tay đánh lại ông T. Ngày 11/6/2020, ông T có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với N. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 626/TgT.20 ngày 16/7/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh đối với ông Trần Văn T như sau: Đa vết thương phần mềm gây rách, đứt da đầu, sước da vùng dưới ngực phải đã được khâu vết thương, tỷ lệ thương tích là 4%. Vết thương do vật tày, vật sắc, vật có cạnh sắc gây ra. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2021/HS-ST ngày 03/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự + Xử phạt: Nguyễn Hồng N 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo. Ngày 04/02/2021, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo. Ngày 11/3/2021, bị hại Trần Văn T có đơn bãi nại và yêu cầu không xử lý hình sự đối với Nguyễn Hồng N. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo, bị hại đề nghị không xử lý hình sự đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm nêu quan điểm kết luận cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, mức hình phạt đã tuyên là thỏa đáng. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị hại có đơn yêu cầu không xử lý hình sự đối với bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên hợp lệ.
Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 10/6/2020 xuất phát từ mâu thuẫn trong việc bị hại Trần Văn T trồng cây tại phần đất trống thuộc quyền sử dụng của bà Thiều Thị X (mẹ bị cáo Nguyễn Hồng N) nên bị cáo đã dùng dao chặt cây nói trên. Khi bị ông T ngăn cản, N dùng dao bằng kim loại tấn công chém bị hại gây thương tích 4%. Ngày 11/6/2020, ông T có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với N. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng N, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Tuy nhiên, trong thời gian chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm bị hại Trần Văn T có đơn xin rút yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm bị hại xác nhận việc rút yêu cầu khởi tố và xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo N là hoàn toàn tự nguyện. Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định “trường"hợp"người"đã"yêu"cầu"khởi"tố"rút"yêu"cầu"thì"vụ"án"phải"được"đình" chỉ”, đây là quy định có lợi cho người phạm tội nên việc bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự cần phải được xem xét chấp nhận. Do bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên theo quy định tại các Điều 155, 157 Bộ luật Tố tụng hình sự thì bản án sơ thẩm số 33/2021/HS-ST ngày 03/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” không còn phù hợp nên Hội đồng xét xử xét cần phải hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh và đình chỉ vụ án.
Do đình chỉ vụ án xuất phát từ việc bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, đây là tình tiết khách quan nên việc hủy án không có lỗi của tòa án cấp sơ thẩm và bị cáo cũng không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Về hậu quả của việc đình chỉ vụ án: Do vụ án được đình chỉ nên các yêu cầu về bồi thường thiệt hại của bị hại Trần Văn T đối với bị cáo Nguyễn Hồng N cũng như biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, các cơ quan tố tụng đã áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Hồng N cần phải được hủy bỏ.
Về vật chứng, đồ vật đã thu giữ gồm: 01 con dao dài 36cm, phần cán dao bằng gỗ dài 12cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 24cm, chủ sở hữu là ông Nguyễn Công D không có nhu cầu nhận lại và 01 cục gạch ống màu cam đã qua sử dụng, tất cả đều không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Vì"các"lẽ"trên;"
QUYẾT!ĐỊNH!
Căn cứ khoản 8 Điều 157; điểm d khoản 1 Điều 355; Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng N. Chấp nhận đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và không xử lý hình sự của bị hại Trần Văn T. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 33/2021/HS-ST ngày 03/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh và đình chỉ vụ án. Hủy bỏ yêu cầu về bồi thường thiệt hại của bị hại Trần Văn T đối với bị cáo Nguyễn Hồng N. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Hồng N.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dài 36cm, phần cán dao bằng gỗ dài 12cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 24cm và 01 cụ gạch ống màu cam. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Nơi"nhận:"
"TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!
- TAND Tối Cao;
(1)
THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!
- TAND Cấp Cao tại Tp. HCM
(1)
- VKSND Tp.HCM;
(3)
- VKSND H. Bình Chánh;
(1)
- Chi cục THA H. Bình Chánh;
(1)
- TAND H. Bình Chánh;
(2)
- Công an H. Bình Chánh;
(1)
- Phòng PC 53 - CA Tp. HCM;
(1)
- Bị cáo;
(1)
- Sở Tư pháp;
(1)
Nguyễn!Văn!Hà
- UBND nơi bị cáo cư trú;
(1)
- Lưu, hình sự, hồ sơ. (18)
(4)