vanban.org

Bản án 194/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Bộ luật tố tụng dân sự;

84, Điều 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Y
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 07/5/2021.
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Y – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Xuân Đào.

2. Bà Vũ Thị Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hiên – Thư ký Tòa án nhân dân Quận Y, thành phố

Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Ông Võ Văn Tánh – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:

493/2020/TLST–HNGĐ ngày 01/10/2020 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số 133/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/12/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số

02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05/01/2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

31/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/4/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị V.T.H.D, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: H.G, Phường T, Quận Y, TP.HCM. (có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh N.H.L, sinh năm: 1979.

Địa chỉ: H.G, Phường T, Quận Y, TP.HCM. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Chị

V.T.H.D trình bày:

Năm 2004 Chị V.T.H.D và Anh N.H.L, sinh năm 1979 tự nguyện đăng ký kết hôn

tại Ủy Ban Nhân Dân Phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy

chứng nhận kết hôn số: 146, ngày 30/11/2004. Vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với

nhau được 02 (hai) người con.

Sau đó, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, Anh N.H.L bắt đầu nhậu nhẹt, không lo làm

ăn cũng như không chăm sóc gia đình. Ngoài ra Anh N.H.L còn thường xuyên chửi mắng, đánh đập Chị V.T.H.D và các con.

Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống chung không còn hạnh

phúc. Chị V.T.H.D và Anh N.H.L đã ly thân từ năm 2014 đến nay, không liên lạc qua lại.

Chị V.T.H.D nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống không còn

hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm Chị V.T.H.D dành cho Anh N.H.L không còn nữa nên đề nghị Tòa án công nhận những yêu cầu sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị V.T.H.D yêu cầu được ly hôn với Anh N.H.L.

- Về con chung: Có 02 con chung, tên: N.H.T (nam), sinh ngày: 19/5/2005; N.H.L

(nam), sinh ngày: 10/8/2007. Chị V.T.H.D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc 02 con chung. Cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn: Anh N.H.L vắng mặt không lý do, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các

văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đến tòa để làm Bản tự khai, Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng Anh N.H.L đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn Anh N.H.L vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa phát biểu ý kiến như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: thực hiện

đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cũng

như trình tự thủ tục tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung, xét thấy các bên đã mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến việc sống ly thân,

các bên không còn tình cảm với nhau, không muốn tiếp tục chung sống nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung chấp nhận yêu cầu của Chị V.T.H.D, giao các con chung cho Chị V.T.H.D được trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Về tài sản chung, các đương sự tự khai không có nên không giải quyết. Về nợ chung, các đương sự xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Vụ án thuộc trường hợp ly hôn theo yêu

cầu của một bên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Bị đơn có nơi cư trú tại Quận Y nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận Y

theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng

dân sự 2015.

- Anh N.H.L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, nguyên

đơn có đơn đề ngày 04/12/2020 xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, căn cứ

điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét

xử vụ án là đúng theo quy định pháp luật.

. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị V.T.H.D và Anh N.H.L tự nguyện chung sống với

nhau và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 146, của Ủy Ban Nhân Dân

Phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/11/2004 nên xác định là hôn

nhân hợp pháp.

- Về nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn: Sau khi kết hôn, anh N.H.L bắt đầu nhậu

nhẹt, không lo làm ăn cũng như không chăm sóc gia đình. Ngoài ra Anh N.H.L còn

thường xuyên chửi mắng, đánh đập Chị V.T.H.D và các con.

Chị V.T.H.D và Anh N.H.L đã ly thân từ năm 2014 đến nay, không liên lạc qua lại.

Chị V.T.H.D xác định hiện nay không còn tình cảm với Anh N.H.L, nên Chị

V.T.H.D yêu cầu được ly hôn với Anh N.H.L.

Xét thấy vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm

sóc, giúp đỡ nhau, có nghĩa vụ sống chung với nhau trừ trường hợp vợ chồng có thỏa

thuận khác. Đối với quan hệ vợ chồng giữa chị và anh thì mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã

gay gắt, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp

tục kéo dài. Hai vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2014 cho đến nay,

vì vậy yêu cầu được ly hôn của Chị V.T.H.D có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Có 02 con chung, tên: N.H.T (nam), sinh ngày: 19/5/2005; N.H.L

(nam), sinh ngày: 10/8/2007. Chị V.T.H.D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm

sóc 02 con chung. Cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị V.T.H.D trình bày không có nên không yêu cầu

Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, thì Hội đồng

xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

. Về án phí: Chị V.T.H.D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng theo

quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273

của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều

84, Điều 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị V.T.H.D.

Về quan hệ hôn nhân: Chị V.T.H.D được ly hôn với Anh N.H.L.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên: N.H.T (nam), sinh ngày: 19/5/2005 và

N.H.L (nam), sinh ngày: 10/8/2007 cho Chị V.T.H.D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận.

Anh N.H.L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở Anh

N.H.L thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị V.T.H.D trình bày không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết.

4. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 146, của Ủy Ban Nhân Dân Phường T,

Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/11/2004 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị V.T.H.D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là

300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2019/0010543 ngày 01/10/2020 của Chi Cục Thi hành án Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị V.T.H.D đã đóng đủ tiền án phí.

6. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản

án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ