- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Hằng-Thắng"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Lê Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 194/2021/HNGĐ-ST Ngày 27-9-2021 V/v Ly hôn, nuôi con chung giữa chị H và anh Th” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;
Ông Trần Văn Kiêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2021/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2021 và Thông báo mở lại phiên tòa số 05/2021/TB-TA ngày 20 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Thu H, sinh năm 1998; Địa chỉ: Xóm 12, xã HĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Lê Văn Th, sinh năm 1991; Địa chỉ: Xóm 12, xã HĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 3 năm 2021 và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn chị Vũ Thị Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn Th đăng ký kết hôn ngày 23/8/2016 tại UBND xã HĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, anh Th và chị H chung sống cùng bố mẹ anh Th ở xóm 12, xã HĐ. Vợ chồng chung sống được khoảng hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyễn nhân do trong thời gian chung sống, hai người thường bất đồng quan điểm về những vấn đề trong cuộc sống nên hay xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, anh Th đã có hành động bạo lực với chị H nhiều lần. Từ ngày 06/11/2020 hai người đã sống ly thân. Do xét thấy không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống nên chị H xin được ly hôn với anh Th.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Hoàng V, sinh ngày 05/01/2017 và cháu Lê Minh Kh, sinh ngày 05/11/2018, hiện cháu V đang ở với anh Th, cháu Kh đang ở với chị H. Khi ly hôn chị H nhận tiếp tục nuôi cháu Lê Minh Kh, cháu V sẽ do anh Th nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Do vợ chồng không có tài sản và nợ chung nên chị H không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án anh Lê Văn Th trình bày: Anh Th và chị H có quá trình tìm hiểu, kết hôn, chung sống như chị H đã trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2020 hai vợ chồng vào Sài Gòn làm ăn, chị H tự ý đi chơi không báo cho anh Th biết nên đã xảy ra mâu thuẫn, anh Th đã bảo chị H về quê để nuôi con. Tháng 11 năm 2020 chị H về quê thì đã về nhà bố mẹ đẻ để ở mà không về nhà anh Th và vợ chồng sống ly thân từ đó tới nay. Nay chị H làm đơn xin ly hôn, anh Th đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu là cháu Lê Hoàng V, sinh ngày 05/01/2017 và cháu Lê Minh Kh, sinh ngày 05/11/2018 như chị H đã trình bày. Khi ly hôn anh Th nhận nuôi hai con chung và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và Nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Anh Th không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa anh Th nhất trí ly hôn và có ý kiến thay đổi về nuôi dưỡng con chung, nhất trí để chị H nuôi dưỡng cháu Kh, anh sẽ có trách nhiệm nuôi dưỡng cháu V. Hai bên tự có trách nhiệm đi lại thăm nom chăm sóc các con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Vũ Thị Thu H có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt chị H theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Thu H và anh Lê Văn Th kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã HĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định ngày 23-8-2016. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Th là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh Th, qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2020. Đến nay, thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu nhưng hai người không có biện pháp, hành động nhằm hàn gắn tình cảm và mong muốn cuộc sống chung của vợ chồng tiếp tục tồn tại, chị H xin ly hôn anh Th đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị Vũ Thị Thu H được ly hôn anh Lê Văn Th là phù hợp.
Về con chung: Xét yêu cầu xin nuôi con chung của chị H và anh Th thì thấy: Anh Th có nguyện vọng nhận nuôi cả hai con chung tuy nhiên tại phiên tòa nhất trí để chị H nuôi dưỡng cháu Kh. Xét thấy hiện nay cháu Lê Minh Kh còn rất nhỏ mới được hơn hai tuổi, đang trong thời gian cần có sự chăm sóc của người mẹ, hiện tại cháu Kh đang ở cùng chị H, chị H cũng có yêu cầu nuôi cháu Kh và cháu V đang ở với anh Th nên nhất trí để anh Th nuôi dưỡng cháu V. Do vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị H, giao con chung là cháu Lê Minh Kh cho chị H, giao cháu Lê Hoàng V cho anh Th nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng: Chị Vũ Thị Thu H và anh Lê Văn Th không đề nghị Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị Thu H phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Lê Văn Th.
2. Về nuôi con chung: Giao chị Vũ Thị Thu H nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Minh Kh, sinh ngày 05/11/2018; giao anh Lê Văn Th nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Hoàng V, sinh ngày 05/01/2017. Chị H và anh Th có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con chung đến tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản riêng để tự nuôi mình. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây anh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Vũ Thị Thu H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0002586 ngày 20-4-2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Cấp cho đương sự: (2 bản); - TAND tỉnh Nam Định: (1 bản); - VKSND tỉnh+huyện: (2 bản); - Chi cục THADS huyện: (1 bản); - UBND xã HĐ: (1 bản); - Lưu hồ sơ: (1 bản); - Lưu văn phòng: (1 bản). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |