- Tranh chấp gì? án hình sự — "194 Phạm Ngọc Anh D 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Anh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 194/2020/HS-ST Ngày: 04 - 01 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Huê
Bà Thái Thục Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2021 tại trụ s Tòa án nh n d n Quận 8 Thành phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 222/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc Anh D (tên gọi khác: Pin Heo); sinh năm 1991, tại Thành phố H Ch Minh; Nơi cư trú: 11 Lô N đường N phường L, quận T Thành phố H Ch Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc Svà bà Phan Thị Ngọc H; vợ con chưa có.
Tiền án: Ngày 09/3/2017 bị Tòa án nh n d n Quận Bình T n, Thành phố H Ch Minh xử 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 11/8/2018 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Ngày 27/12/2018, bị Tòa án nh n d n Quận 8 Thành phố H Ch Minh định áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng đến tháng 01/2020 chấp hành xong.
Nhân thân: Ngày 01/6/2016 bị Công an Phường An Lạc quận Bình T n xử phạt 750.000 đ ng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 18/7/2020 bị Công an Phường An Lạc quận Bình T n đưa đi cắt cơn giải độc tại cơ s xã hội Nhị Xu n.
Ngày 30/9/2020 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Bình T n kh i tố về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 13/10/2020 đến nay (có mặt).
- Bị hại: Chị Đào Thị Phương T sinh năm: 1987; nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: 104/36 đường X phường H quận T Thành phố H Ch Minh; chỗ : 163/9 đường N phường T Quận Y Thành phố H Ch Minh) (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 50 phút ngày 01/6/2020 Phạm Ngọc Anh D đi xe công nghệ Grab đến khách sạn TL địa chỉ: 301 đường L Phường X Quận 8 Thành phố H Ch Minh thuê phòng để nghỉ ngơi. Đến khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày D xuống quầy lễ t n để trả phòng. Khi xuống đến sảnh khách sạn D phát hiện chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Taurus biển số 54V8-4647 của chị Đào Thị Phương T không khóa cổ xe và ổ khóa bị hư nên D nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe này đem bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên D đi đến tiếp cận chiếc xe và dùng chìa khóa xe gắn máy của D thủ sẵn trong người ra để m thử thì kh i động được xe gắn máy của chị T. Lúc này chị Hà Thị A là lễ t n khách sạn nhìn thấy D kh i động xe thì nghĩ D là chủ s hữu của chiếc xe trên nên không phản ứng gì. Thấy chị A không để ý D điều khiển xe gắn máy trên tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát D m cốp xe trên phát hiện bên trong có 02 cái áo mưa 01 cái áo khoác và 01 đôi guốc nữ nên đã vứt những đ vật này đi và không rõ tại địa chỉ nào. Sau đó D chạy đến công viên P quận T tìm gặp Hiếu (không rõ lai lịch) và nhờ Hiếu cầm dùm chiếc xe biển số 54V8-4647 thì Hiếu đ ng ý. Một lúc sau Hiếu quay lại đưa cho D số tiền 2.500.000 đ ng và nói xe biển số 54V8-4647 được cầm tiệm cầm đ V địa chỉ: 402 đường V Phường K Quận M Thành phố H Ch Minh. Có được tiền D trả công cho Hiếu 300.000 đ ng còn 2.200.000 đ ng D đã tiêu xài cá nh n hết.
Qua xác minh tại Công an phường L quận T được biết: ngày 18/7/2020, D sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an phường L, quận T đưa đi cắt cơn giải độc tại Cơ s xã hội Nhị Xuân.
Qua làm việc Phạm Ngọc Anh D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Đối với chiếc chìa khóa D dùng để thực hiện hành vi trộm cắp D đã làm thất lạc đ u không rõ nên không thu h i được.
Ngày 22/6/2020, Hội đ ng định giá trong tố tụng Quận 8 kết luận giá trị còn lại của chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Taurus biển số 54V8-4647 là 4.320.000 đ ng.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- 01 USB màu đen hiệu PQ1 do chị Nguyễn Thị Hải Y ngụ 301 đường L Phường X, Quận 8 Thành phố H Ch Minh giao nộp. Chị Yến không yêu cầu nhận lại tài sản này.
Trách nhiệm d n sự: Chị Đào Thị Phương T cho biết đối với 02 cái áo mưa 01 cái áo khoác và 01 đôi guốc nữ do đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng.Chị Đào Thị Phương T đã nhận được b i thường số tiền 3.000.000 đ ng từ gia đình D nên chị T không yêu cầu D phải b i thường gì thêm. Ngày 23/9/2020 chị T đã làm đơn bãi nại cho Phạm Ngọc Anh D.
Qua làm việc anh Đỗ D Linh là quản lý tiệm cầm đ V, cho biết vào ngày 01/6/2020 tiệm cầm đ V không cầm chiếc xe máy Yamaha Taurus biển số 54V8-4647.
Đối với chiếc xe gắn máy biển số 54V8-4647 của chị T s hữu, qua xác minh do chị Nguyễn Thị Kiều N địa chỉ: 15/6B đường T, Phường J quận V Thành phố H Ch Minh đứng tên s hữu. Chị T mua lại xe trên vào năm 2010 với giá 11.000.000 đ ng nhưng không làm thủ tục sang tên. Quá trình điều tra xác định tại địa chỉ: 15/6B đường T phường J quận V, Thành phố H Ch Minh không có ai tên là Nguyễn Thị Kiều N. Ngày 01/10/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã đề nghị đăng báo tìm chủ s hữu xe trên.
Tại bản Cáo trạng số 213/ CT-VKSQ8 ngày 23/11/2020 Viện kiểm sát nh n d n Quận 8 Thành phố H Ch Minh truy tố bị cáo Phạm Ngọc Anh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nh n d n Quận 8 Thành phố H Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Ngọc Anh D về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi ph n t ch đánh giá t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Anh D từ 12 tháng đến 18 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Vật chứng thu giữ tiếp tục lưu h sơ 01 USB màu đen hiệu PQ1. Về trách nhiệm d n sự: do bị hại nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nh n d n Quận 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai bị hại người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ vụ án xác định vào khoảng 09 giờ 10 phút ngày 01/6/2020, tại số 301 đường L Phường X Quận 8 Thành phố H Ch Minh bị cáo Phạm Ngọc Anh D có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Đào Thị Phương T tài sản có tổng giá trị là 4.320.000 đ ng, hành vi của bị cáo D bị phát hiện và bị Công an bắt giữ.
Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã x m phạm đến quyền s hữu tài sản của cá nh n được pháp luật bảo vệ. Như vậy Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Phạm Ngọc Anh D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã từng bị kết án và bị xử phạt tù nhưng vẫn tiếp tục phạm tội. Xét t nh nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo dục bị cáo tr thành người có ch có ý thức tu n theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Ngày 09/3/2017 bị cáo bị Tòa án nh n d n Quận Bình T n xử 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 11/8/2018 chấp hành xong hình phạt tù nên chưa được xóa án t ch. Do đó lần phạm tội này là thuộc trường hợp “tái phạm” đ y là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Về nh n th n của bị cáo: Bị cáo có nh n xấu năm 2018 bị Tòa án nh n d n Quận 8 Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc do sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 30/9/2020 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Bình T n kh i tố về tội “Trộm cắp tài sản”. Nên Hội đ ng xét xử cũng lưu ý khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải tài sản đã thu h i bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên Hội đ ng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ s
đúng người đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nh n d n Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận.
Xét thấy theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do không có thu nhập điều kiện kinh tế còn khó khăn; vì vậy Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng: 01 USB màu đen hiệu PQ1 do chị Nguyễn Thị Hải Y giao nộp. Chị Y không yêu cầu nhận lại, nên tiếp tục lưu trữ trong h sơ vụ án.
Về trách nhiệm d n sự: Chị Đào Thị Phương T không yêu cầu bị cáo phải b i thường nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc xe gắn máy biển số 54V8-4647, ngày 01/10/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã đề nghị đăng báo tìm chủ s hữu xe trên. Đến nay chưa xác định được chủ s hữu hợp pháp, và chiếc xe cũng chưa thu h i được nên không xem xét.
Anh Đỗ D là quản lý tiệm cầm đ V cho biết vào ngày 01/6/2020 tiệm cầm đ V không cầm chiếc xe máy Yamaha Taurus biển số 54V8-4647. Ngoài lời khai của bị cáo ra không có chứng cứ nào khác chứng minh anh Đỗ D cầm cố xe của D trộm cắp mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đưa vào diện xử lý là phù hợp quy định.
Về án ph hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Anh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Anh D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù t nh từ ngày 13/10/2020.
- Về vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tiếp tục lưu h sơ 01 USB màu đen hiệu PQ1.
- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo nộp 200.000 đ ng án ph hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày t nh từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Quận 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Chi cục THA DS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TAND TP.HCM; - S Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |