vanban.org

Bản án 194/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Thiều Quang B phạm tội ―Cướp giật t i sản‖; bị cáo Lê Lương N, Nguyễn Thịnh T phạm tội ―Tiêu thụ t i sản do người khác phạm tội m có‖.

2/ Về hình phạt: 1/ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thiều Quang B 03 (ba) năm tù, thời hạn ch p h nh hình phạt tù tính từ ng y 25/3/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thiều Quang B - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Thiều Quang B phạm tội ―Cướp giật t i sản‖; bị cáo Lê Lương N, Nguyễn Thịnh T phạm tội ―Tiêu thụ t i sản do người khác phạm tội m có‖.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2019/HS - ST
Ngày: 17-10-2019.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trương N Điệp;

2/ Ông Thượng Văn Kịnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hường - Kiểm sát viên.

Ng y 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 154/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2019/QĐXXST – HS ngày 04 tháng 10 năm 2019 đối với các bị cáo:

1/ H v tên: Thiều Quang B, sinh ngày 10/11/1987. Tại: Phú Th . Nơi ĐKHKTT: xã DD, huyện TN, tỉnh Phú Th . Trình độ h c v n: 9/12. Nghề nghiệp: Công nhân; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Thiều Quang P (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); Vợ: Ho ng Thị L, có 02 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ng y 25/3/2019 v tạm giam cho đến nay; Có mặt.

2/ H v tên: Lê Lƣơng N, sinh ngày 27/9/1994. Tại: Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Thôn ĐH, xã TD, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa. Tạm trú: khu phố BT, phường TG, thị xã TA, tỉnh Bình Dương; Trình độ h c v n: 10/12. Nghề nghiệp: Thợ sửa xe; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Lương H và bà Lê Thị T; Vợ: Dương Thị X, có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ng y 25/3/2019 đến ng y 03/4/2019 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh; Có mặt.

3/ H v tên: Nguyễn Thịnh T, sinh ngày 27/4/1999. Tại: Nghệ An. Nơi ĐKHKTT: xã NH, huyện TK, tỉnh Nghệ An. Tạm trú: khu phố BG, phường TG, thị xã TA, tỉnh Bình Dương; Trình độ h c v n: 10/12. Nghề nghiệp: Thợ sửa xe; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thịnh C và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ng y 25/3/2019 đến ng y 03/4/2019 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng c m đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Liên T, sinh năm 1965. Địa chỉ: phường TH, th nh phố BH, tỉnh Đồng Nai; Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Ho ng T, sinh năm 1991. Địa chỉ: phường HA, th nh phố M, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Duy B, ông Lê Quốc V, ông Trương Văn L, ông Mai Thanh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án v quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thiều Quang B và Lê Lương N l bạn quen biết nhau do Ba v N trước đây ở chung khu nh tr . Lê Lương N và Nguyễn Thịnh T l bạn quen biết nhau do cùng làm nghê sưa chữa xe mô tô, xe găn máy.

Khoảng 18 giờ 40 phút ng y 23/3/2019, Thiều Quang B điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave RS m u đỏ-đen biển số 51V1 - 21xx đến quán karaoke CT địa chỉ tại khu 2, phường P, th nh phố M, tỉnh Bình Dương để hát karaoke cùng một số người bạn. Khi tới nơi, B gửi xe tại nh giữ xe của quán v nhận thẻ xe từ nhân viên bảo vệ sau đó v o trong phòng uống bia v hát karaoke. Khoảng 22 giờ ng y 23/03/2019, trong lúc đi vệ sinh, B nhặt được 01 chìa khóa điện tử của xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu trắng - đen biển số 61B1 - 99.xxx của anh Nguyễn Ho ng T, sinh năm 1991, ngụ tại khu 3, phường HA, thành phố M đánh rơi. Sau đó, B đi ra bãi giữ xe dùng chìa khóa vừa nhặt được b m nút để tìm xe thì th y xe mô tô nhãn hiệu Honda SH m u trắng - đen biển số 61B1 - 99.xxx bật đèn. Lúc n y, do th y xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 61B1 - 99.xxx còn mới v có giá trị cao nên B nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe để bán l y tiền tiêu x i. Thực hiện ý định trên, B không đưa chìa khóa vừa nhặt được cho bảo vệ để trả cho chủ xe m c t chìa khóa v o túi quần định khi n o về sẽ l y xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 61B1 - 99.xxx. Khi vừa v o trong phòng thì nhóm người đi chung với B đang chuẩn bị tính tiền ra về, trong lúc m i người đang tính tiền thì B bỏ ra ngo i bãi giữ xe rồi dùng chìa khóa vừa nhặt được khởi động xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 61B1 - 99.xxx chạy ra chỗ bảo vệ v l y thẻ giữ xe của xe mô tô biển số 51V1 — 21xx của B gửi trước đó đưa cho anh Nguyễn Liên T, sinh năm 1965, ngụ tại phường TH, th nh phố BH, tỉnh Đồng Nai l nhân viên bảo vệ. Do th y B không dừng xe lại để kiểm tra thẻ xe với xe nên anh T đã kéo đuôi xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 61B1 - 99.xxx lại nhằm đối chiếu xem biển số xe có đúng với số thẻ xe không thì B b t ngờ tăng ga bỏ chạy về phòng tr của B tại địa chỉ khu phố BT, phường TG, thị xã TA, tỉnh Bình Dương c t gi u xe, sau đó tháo biển số 61B1 - 99.xxx vứt v o thùng rác ở ven đường.

Đến khoảng 08 giờ ng y 24/03/2019, Thiều Quang B đi bộ đến gặp Lê Lương N, sinh năm 1994, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn ĐH, xã TD, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa, là chủ tiệm sửa xe Lương N địa chỉ tại khu phố BT, phường TG, thị xã TA, tỉnh Bình Dương để xin N một biển số với ý định gắn v o xe mô tô nhãn hiệu Honda SH B vừa chiếm đoạt được nhưng N nói không có. Lúc này, B nảy sinh ý định nhờ N giới thiệu người để B bán xe. Thực hiện ý định trên, B nói với N l bạn của B vừa trộm được 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda SH v nhờ N bán giùm. Nghe vậy, N điện thoại cho Nguyễn Thịnh T, sinh năm 1999 là chủ tiệm sửa xe HH, địa chỉ tại phường TG, thị xã TA, tỉnh Bình Dương v nói với T l : ―Giờ có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH người ta trộm được, anh có mua không?‖ thì T đồng ý mua xe với giá l 20.000.000 đồng v hứa với N l nếu mua được xe thì T sẽ cho N 2.000.000 đồng tiền công giới thiệu. Sau khi thỏa thuận xong, B đi về phòng tr còn T đi đến tiệm sửa xe của N. Tại đây, N điều khiển xe mô tô (không rõ nhãn hiệu v biển số của một người khách h ng gửi ở tiệm để sửa xe) chở T đến gặp B tại phòng tr của B địa chỉ tại khu phố BT, phường TG, thị xã TA, tỉnh Bình Dương để l y xe v giao nhận tiền. Sau khi mua được xe, T l y biển số 61C1 - 274.xx gắn v o xe Honda SH vừa mua của B rồi điều khiển xe về gửi ở nh bạn của T là anh Trương Văn L, sinh năm 1993, ngụ tại phường TP, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Khi gửi xe T nói với L đây l xe T mới mua v cho T gửi nhờ v i ng y sẽ l y. Sau khi bán xe được số tiên 20.000.000 đồng, Thiều Quang B đã sử dụng số tiền trên để mua 01 chiếc xe Honda Wave với số tiền 19.760.000 đồng, số tiền còn lại B đã tiêu x i cá nhân hết.

Đối với anh Nguyễn Liên T, sau khi th y B tăng ga bỏ chạy khi chưa kịp kiểm tra thẻ xe nên anh T đã nghi ngờ B l y xe của người khác, khoảng 10 phút sau thì anh Nguyễn Ho ng T, phát hiện bị m t xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 61B1 - 99.xxx cùng chìa khóa điện tử của xe nên đã báo với bảo vệ của quán karaoke CT. Lúc n y, lực lượng bảo vệ đã tiến h nh kiểm tra lại camera an ninh của quán thì phát hiện Thiều Quang B l người đã l y xe nên đã trình báo Công an phường P. Công an phường P đã yêu cầu Thiều Quang B về trụ sở Công an phường l m việc. Tại Công an phường, B đã khai nhận h nh vi phạm tội của mình. Ng y 25/3/2019, Công an phường P đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ng y 25/3/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường h p khẩn c p đối với Thiều Quang B, Lê Lưong N và Nguyễn Thịnh T. Thu giữ vật chứng gồm: Xe Honda Wave (không biển số); xe mô tô nhãn hiệu Honda SH m u trắng - đen được gắn biến số 61C1 -274.xx; xe mô tô biển số 51V1 -21xx.

Căn cứ bản kết luận định giá t i sản số 77 ng y 04/4/2019 của Hội đồng định giá t i sản trong tố tụng hình sự th nh phố Thủ Dầu Một kết luận: Xe mô tô hiệu Honda SH125 m u trắng - đen, biển số 61B1-99.xxx trị giá 70.000.000 đồng.

Đối với Trương Văn L l người đã cho Nguyễn Thịnh T gửi xe mô tô hiệu Honda SH125 m u trắng - đen. Quá trình điều tra xác định khi L cho T gửi nhờ xe, L không biết đây là xe do T mua b t hợp pháp từ t i sản chiếm đoạt của người khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda SH m u trắng - đen, số khung 731XGY03xxxx, số máy JF74E003xxxx. Quá trình điều tra xác định đây l xe của anh Nguyễn Ho ng T sinh năm 1991, ngụ tại phường HA, th nh phố Thủ Dầu Một. Ng y 08/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã giao trả xe mô tô nhãn hiệu Honda SH m u trắng - đen, số khung 731XGY03xxxx, số máy JF74E003xxxx cho anh Nguyễn Ho ng T. Anh Thịnh không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với biển số 61C1 - 274.xx. Quá trình điều tra xác định biển số 61 C1 - 274.xx là của xe mô tô nhãn hiệu Wave Halim - Krea, số khung NF110M-003xxxx, số máy NF110ME-003xxxx do anh Phan Minh T đứng tên trên gi y chứng nhận đăng ký xe. Hiện tại anh T vẫn đang sử dụng xe mô tô trên v xe không bị m t biển số. Anh T không có yêu cầu gì nên không đề cập xử lý. Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave (chưa có biển số). Quá trình điều tra xác định: Xe trên l do Thiều Quang B sử dụng số tiền 19.600.000 đồng từ tiền bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mà B chiếm đoạt được để mua. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã chuyển Chi cục Thi h nh án dân sự th nh phổ Thủ Dầu Một đề nghị xử lý theo quy định pháp luật. Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave RS m u đỏ đen, số khung RNRWCB7UMA1 xxxx, số máy RNRHA139FMB1xxxxx được gắn biển số 51Y1 – 21xx. Quá trình điêu tra xác định: Tại phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 943 ng y 31/7/2019 của Phòng PC08 Công an tỉnh Bình Dương xác định xe mô tô hiệu Honda Wave RS m u đỏ đen, số khung RNRWCB7UMA1 10xxxx, số máy RNRHA139FMB10xxxx không có trong dữ liệu tra cứu. Ng y 31/7/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã tiến hành đăng báo truy tìm chủ sở hữu của xe nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Quá trình điều tra, Thiều Quang B khai nhận xe trên B mua của một người nam (không rõ nhân thân, lai lịch), khi mua không l m gi y tờ mua bán, sang tên theo quy định của nh nước v khi mua xe đã được gắn biển số 51Y1 — 21xx. Đối với biển số 51Y1 —21xx, quá trình điều tra xác định biển số trên l của xe mô tô ba bánh có số khung IP52EMH-1028xxxx, số máy XCHLX-31028xxxx do ông Lê Văn N sinh năm 1954, ngụ tại XT, huyện HM, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên trên gi y chứng nhận đăng ký xe. Ông N hiện đang sử dụng xe trên v xe không bị m t biển số 51Y1 -21xx.

Cáo trạng số 168/CT-VKS-HS ngày 12/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Thiều Quang B về tội ―Cướp giật tài sản‖ theo điểm c khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; truy tố bị cáo Lê Lương N, Nguyễn Thịnh T về tội ―Tiêu thụ t i sản do người khác phạm tội m có‖ theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Thiều Quang B mức hình phạt từ 03 năm đến 04 năm tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Lê Lương N mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thịnh T mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung v o ngân sách nh nước 01 xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Honda Wave RS m u đỏ đen, số khung RNRWCB7UMA110xxxx, số máy RNRHA139FMB10xxxx; 01 xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Honda Wave (chưa có biển số) m u xanh, số khung RLHJA391XKY04xxxx, số máy JA39E – 090xxxx. Tịch thu tiêu hủy biển số 51Y1 – 21xx. Buộc Thiều Quang B nộp 240.000đ (hai trăm bốn mươi nghìn đồng) thu lợi b t chính sung v o ngân sách nh nước.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, quyết định, h nh vi tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện l phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản l y lời khai của bị hại cùng những t i liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 23/3/2019, Thiều Quang B nhặt được 01 chìa khóa xe mô tô hiệu SH125 biển số 61B1 – 99.xxx của Nguyễn Ho ng T tại khu vực nh vệ sinh karaoke CT (phường P, th nh phố M, tỉnh Bình Dương). Do có ý định chiếm đoạt xe mô tô nêu trên nên B đã dùng chìa khóa xe mô tô SH vừa nhặt được khởi động xe, sau đó dùng thẻ giữ xe mô tô hiệu Wave biển số 51Y1 – 21xx (thẻ xe do B đã gửi trước đó) đưa cho ông Lê Liên T (nhân viên kiểm soát xe), nhằm tạo tình huống khi ông T vừa cầm thẻ giữ xe thì B nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát khỏi bãi giữ xe của karaoke CT. Giá trị xe mô tô SH biển số 61B1 – 99.xxx l 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng). Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô nêu trên, Thiều Quang B đã liên hệ Lê Lương N tiêu thụ t i sản. Thông qua sự giới thiệu của Lê Lương N, Nguyễn Thịnh T đã mua xe mô tô do Thiều Quang B chiếm đoạt trái pháp luật m có với giá 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Do đó, hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố c u th nh tội ―Cướp giật t i sản‖ được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Thiều Quang B v tội ―Tiêu thụ t i sản do người khác phạm tội m có‖ theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Lê Lương N, Nguyễn Thịnh T. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo theo tội danh v điều khoản như trên l có căn cứ, đúng người, đúng tội.

H nh vi của các bị cáo l nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về t i sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây m t trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, các bị cáo biết h nh vi của mình l vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà các bị cáo đã b t ch p sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện h nh vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo đồng thời nhằm đ u tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính ch t, mức độ, h nh vi phạm tội m mỗi bị cáo đã thực hiện.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo có thái độ th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về h nh vi phạm tội của mình; t i sản được thu hồi, ho n trả cho chủ sở hữu hợp pháp. Bị cáo N, T đều phạm tội lần đầu v thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng. Đây l những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, xét bị cáo N, T có nơi cư trú rõ r ng, chưa tiền án, tiền sự. Bản thân các bị cáo không có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nếu cho các bị cáo được miễn ch p h nh hình phạt tù có điều kiện. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo N, T cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo v cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nh nước ta. Căn cứ v o nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt m Đại diện Viện kiểm sát đề nghị l phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: T i sản đã được thu hồi, ho n trả cho chủ sỡ hữu hợp pháp. Hiện tại ông Th, ông T không có yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung v o ngân sách nh nước 01 xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Honda Wave RS m u đỏ đen, số khung RNRWCB7UMA110xxxx, số máy RNRHA139FMB10xxxx (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động) đã thu giữ của Thiều Quang B do không rõ nguồn gốc; 01 xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Honda Wave (chưa có biển số) màu xanh, số khung RLHJA391XKY04xxxx, số máy JA39E – 09xxxx (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động) l t i sản có được do thu lợi b t chính. Buộc Thiều Quang B nộp 240.000đ (hai trăm bốn mươi nghìn đồng) thu lợi b t chính sung v o ngân sách nh nước. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số 51Y1 – 21xx.

Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý v sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Thiều Quang B phạm tội ―Cướp giật t i sản‖; bị cáo Lê Lương N, Nguyễn Thịnh T phạm tội ―Tiêu thụ t i sản do người khác phạm tội m có‖.

2/ Về hình phạt:

2.1/ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thiều Quang B 03 (ba) năm tù, thời hạn ch p h nh hình phạt tù tính từ ng y 25/3/2019.

2.2/ Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Lương N 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm. Thời gian thử thách tính từ ng y tuyên án (17/10/2019).

Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường TG, thị xã TA, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi h nh án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải ch p h nh hình phạt tủ của bản án đã cho hưởng án treo.

2.3/ Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thịnh T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm. Thời gian thử thách tính từ ng y tuyên án (17/10/2019).

Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường TG, thị xã TA, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi h nh án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải ch p h nh hình phạt tủ của bản án đã cho hưởng án treo.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

4/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

- Tịch thu sung v o ngân sách nh nước: 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Honda Wave RS m u đỏ đen, số khung RNRWCB7UMA110xxxx, số máy RNRHA139FMB10xxxx (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động); 01 xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Honda Wave (chưa có biển số) m u xanh, số khung RLHJA391XKY04xxxx, số máy JA39E – 090xxxx (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).

- Buộc Thiều Quang B nộp 240.000đ (hai trăm bốn mươi nghìn đồng) thu lợi b t chính sung v o ngân sách nh nước.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số 51Y1 – 21xx.

5/ Về án phí: Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc ng y bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ