vanban.org

Bản án 194/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 09/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Trần Chiến T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Trần Chiến T 30 (B mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2019. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Chiến T "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trần Chiến T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 194/2019/HS-ST
Ngày 09-7-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Hồ Thị Lan

- Ông Phạm Văn Hiều

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 197/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Chiến T; sinh ngày 07 tháng 5 năm 1994 tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: xóm 3, thôn Mỹ Đức, xã Đ, huyện T1, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn C và bà: Hồ Thị M; Chưa có vợ; Tiền án: Ngày 22/11/2017 TAND Tp H xử phạt 09 tháng tù về tội „Trộm cắp tài sản‟; Tiền sự: Không. Đầu thú ngày 20/4/2019. Hiện tạm giam. Có mặt

* Bị hại: Nguyễn Thị H1, Sn 1964. Nơi ĐKHKTT: tổ 3, khu 5, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

* Người làm chứng:

+./ Nguyễn Thị Tuyết Ng, Sn 1998. Địa chỉ: tổ 3, khu 5, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

+./ Đặng Văn B, Sn 1956. Địa chỉ: tổ 97, khu 6, phường B1, thành phố H. Vắng mặt, không có lý do.

+./ Trần Xuân H2, Sn 1994. Nơi ĐKHKTT: tổ 2, khu 9, phường H3, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, không có lý do.

+./ Nguyễn Văn C, Sn 1953. Địa chỉ: tổ 18, khu 2, phường H4, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03giờ 30phút ngày 20/4/2019 bà Nguyễn Thị H1 đưa Trần Chiến T 50.500.000đ (gồm 101 tờ mệnh giá 500.000đ) để cất vào ngăn tủ tivi ở phòng khách nhà mình tại tổ 3, khu 5, phường Y, Tp H; sau khi T khóa tủ, bà H1 nhận chìa khóa rồi đi đám tang; khoảng 06giờ 30phút chị Nguyễn Thị Tuyết Ng (con gái bà H1, người yêu T,) khóa cửa đi đám tang, bị cáo ra cổng chợ Loong Toòng đón xe đi Vân Đồn. Trong lúc chờ xe bị cáo nhớ chưa khóa cửa chuồng chim nên quay lại nhà bà H1 dùng chìa khóa chị Ng đưa từ trước để mở cửa vào nhà; nảy sinh lòng tham ý định trộm cắp số tiền, T dùng chiếc chìa nhỏ trong chùm khóa có sẵn, mở ngăn tủ tivi lấy toàn bộ 50.500.000đ rồi đóng tủ lại, vào phòng ngủ lấy quần áo vứt ra đất, xuống bếp lấy dao và chiếc búa đặt gần tủ tạo hiện trường giả. Sau khi khóa cửa rời khỏi nhà bà H1, T đi mua 01 điện thoại di động Iphone6Plus giá 5.600.000đ, 01 dây chuyền vàng giá 10.100.000đ, 01 tờ 2Đôla Mỹ giá 48.000đ và 1 đồng hồ Tissot mặt đen dây da giá 4.000.000đ. Số tiền còn lại cùng điện thoại, hóa đơn bị cáo cất giấu trong túi quần áo rồi đón xe đến nơi làm việc tại khu 5, phường Đông Sơn, thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây, bị cáo đã mua 01 thẻ điện thoại Viettel mệnh giá 200.000đ để sử dụng, 30.000.000đ còn lại bị cáo cất giấu dưới bình ga trong bếp nơi làm việc, khoảng 15giờ 30phút cùng ngày, chị Ng phát hiện mất tài sản đã báo bà H1 để trình báo cơ quan chức năng. Khoảng 16giờ 30phút cùng ngày, nhận được thông tin từ Công an phường Y, thành phố H bị cáo đã tự nguyện đầu thú, khai báo hành vi phạm tội và giao nộp: 01 điện thoại di động Iphone6Plus, 01 tờ 2Đôla Mỹ và 01 đồng hồ Tissot 1853 mặt màu đen dây da và 552.000đ.

Khám xét khẩn cấp nơi làm việc của bị cáo thu giữ: (+) 01 túi du lịch màu xanh có chữ Nike, bên trong gồm: 01 dây chuyền bằng kim loại có các mắt xích màu vàng, trắng xen kẽ; 01 hóa đơn bán hàng của cửa hàng vàng bạc Chiến Hoa, 01 phiếu bảo hành của cửa hàng Tiến Dũng Mobil đối với điện thoại Sony và 01 phiếu bảo hành của cửa hàng Tiến Dũng Mobil với điện thoại Iphone6Plus, 01 chùm chìa khóa bằng kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony, 01 dây sạc điện thoại SYC, 01 đồng hồ Tissot mặt vàng dây da; (+) dưới bình ga góc trái khu vực bếp 1 túi nilon màu H1 bên trong có 30.000.000đ (gồm 60 tờ tiền Polime mệnh giá 500.000đ).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại bị hại: 30.552.000đ, 01 tờ 2Đôla Mỹ, 01 điện thoại di động Iphone6 Plus; 01 phiếu bảo hành của cửa hàng Tiến Dũng Mobil với điện thoại Iphone6Plus; 01 đồng hồ Tissot mặt đen dây da; 01 dây chuyền vàng và 01 hóa đơn bán hàng của cửa hàng vàng bạc Chiến Hoa.

Cáo trạng số 147/CT-VKSHL ngày 23/5/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Trần Chiến T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt Trần Chiến T từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về phần dân sự: tài sản bị hại đã nhận lại và không yêu cầu bồi thường nên không đề cập. Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 01 chùm chìa khóa bằng kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp; Trả lại bị cáo Trần C T 01 túi du lịch màu xanh có chữ Nike, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony, 01 dây sạc điện thoại SYC, 01 phiếu bảo hành của cửa hàng Tiến Dũng Mobil đối với điện thoại Sony và 01 đồng hồ Tissot mặt vàng dây da.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu, việc bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng người đúng tội không oan, đã được thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; được giải thích về việc công bố bản án trên Cổng thông tin điện tử và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Nguyễn Thị H1, người làm chứng Nguyễn Thị Tuyết Ng đều có lời khai thể hiện: khoảng 03giờ 30phút ngày 20/4/2019 bà H1 nhờ T cất hộ số tiền 50.500.000đ vào tủ bên phải kệ tivi phòng khách. Đến khoảng 15giờ cùng ngày, chị Ng về nhà phát hiện mất số tiền trên đã gọi điện cho bà H1 về trình báo cơ quan chức năng. Bà H1 đồng ý nhận lại tiền và tài sản khắc phục hậu quả, không có yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Những người làm chứng Đặng Văn B, Trần Xuân H2 và Nguyễn Văn C có lời khai xác nhận việc Trần Chiến T đến cửa hàng mua điện thoại Iphone6Plus, đồng hồ, dây chuyền vàng và 2 Đôla Mỹ phù hợp lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo về việc nảy sinh ý định, lén lút, lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của bị hại để trộm cắp tài sản, phù hợp với lời khai của bị hại về việc bị mất tài sản; phù hợp lời khai của những người làm chứng về việc mua bán hàng với bị cáo; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, bản ảnh vật chứng, bản ảnh xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường.

Như vậy, đủ cơ sở kết luận khoảng 06giờ 30phút ngày 20/4/2019 tại tổ 3, khu 5, phường Y, Tp H, tỉnh Quảng Ninh Trần Chiến T đã trộm cắp của bà Nguyễn Thị H1 50.500.000đ. Tội danh và hình phạt được tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng hoặc dưới 2.000.000đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”

Tính chất mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vi phạm pháp luật, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội; lén lút, lợi dụng sơ hở mất cảnh giác để chiếm đoạt tài sản của bị hại thể hiện sự coi thường pháp luật cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: năm 2017 Trần Chiến T bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện giao nộp tài sản khắc phục hậu quả; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Về bồi thường dân sự: bị hại không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Số tiền 30.552.000đ, 01 tờ 2Đôla Mỹ, 01 điện thoại di động Iphone6 Plus; 01 phiếu bảo hành của cửa hàng Tiến Dũng Mobil đối với điện thoại Iphone6Plus; 01 đồng hồ Tissot mặt đen dây da và 01 dây chuyền vàng; 01 hóa đơn bán hàng của cửa hàng vàng bạc Chiến Hoa bị hại đã nhận lại và không yêu cầu bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét.

Tài sản đã thu giữ gồm: 01 túi du lịch màu xanh có chữ Nike, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony, 01 dây sạc điện thoại SYC, 01 phiếu bảo hành của cửa hàng Tiến Dũng Mobil đối với điện thoại Sony và 01 đồng hồ Tissot mặt vàng dây da không liên quan tới hành vi trộm cắp tài sản nên trả lại bị cáo. 01 chùm chìa khóa bằng kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp là công cụ phạm tội, không còn giá trị, chị Ng không nhận lại nên tịch thu, tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Trần Chiến T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Trần Chiến T 30 (B mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2019.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 01 chùm chìa khóa bằng kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp; Trả lại Trần Chiến T 01 túi du lịch màu xanh có chữ Nike, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony, 01 dây sạc điện thoại SYC, 01 phiếu bảo hành của cửa hàng Tiến Dũng Mobil đối với điện thoại Sony và 01 đồng hồ Tissot mặt vàng dây da. (Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng số 171/BB-THA ngày 14/6/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H).

Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKS; CA; THADS Tp H;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- Bị cáo, bị hại;

- Lưu.

Lê Thanh Tâm

Cỡ chữ