- Tranh chấp gì? án hình sự — "194 - 2018 Nguyen Trung Ng va DP K2-173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xöû phaït: Bò caùo Nguyễn Trung Ng (tên gọi khác: Cà Rốt) 05 (Năm) năm tù, về toäi “Trộm cắp tài sản”. Thôøi haïn tuø T1h keå töø ngaøy 13/4/2018.
- Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 194/2018/HS-ST Ngày: 01-11-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Hoàng Minh Đang.
2/ Bà Thái Thục Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh S Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Ngọc Linh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 11 năm 2018 t i trụ s Tòa án nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 191/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 9 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2018/QĐXXST - HS ngày 17/10/2018 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Trung Ng (tên gọi khác: Cà Rốt), sinh năm: 1970 t i: Campuchia; nơi cư trú: Số 5 lô 25 Đường PTH, Phường B, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh; nghề ngK: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới T1h: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng Ph và bà Lê Kim O; chung sống như vợ chồng với Ph m Thị Diễm G (sinh năm: 1972) và có 01 người con (sinh năm: 1991); tiền án: T i bản án số 349/HSST ngày 19/3/1997 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” ngày 09/6/1997 chấp hành xong hình ph t tù (chưa đóng án phí sơ thẩm). T i bản án số 1818/HSST ngày 11/7/2000, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo kháng cáo; t i bản án số 3227/HSPT ngày 26/12/2000, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao t i Thành phố Hồ Chí Minh xét xử tuyên y án sơ thẩm; ngày 11/8/2003 chấp hành xong hình ph t tù (chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 22/8/2005). T i bản án số 47/2006/HS-ST ngày 14/4/2006, Tòa án nhân dân Quận B1 Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 05 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 03/02/2010 chấp hành xong toàn bộ bản án. T i bản án số 220/2012/HSST ngày 28/8/2012, Tòa án nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 05 (năm) năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” ngày 21/10/2016 chấp hành xong hình ph t tù (chưa đóng án phí sơ thẩm); tiền sự: không; nhân thân: Ngày 16/01/1987 bị Công an Quận T Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”; đến ngày 26/01/1987 được tha. Ngày 14/12/1989 bị Công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt đưa đi cưỡng bức lao động 18 tháng t i Duyên Hải về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 26/10/1991 bị Công an Quận T Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân” sau đó bị bắt đưa đi cưỡng bức lao động 24 tháng t i Duyên Hải; bị bắt t m giam từ ngày 13/4/2018.
(Bị cáo có mặt t i phiên tòa).
2. Phan Thanh K (tên gọi khác: Chảy), sinh ngày 22/8/1992 t i: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: (Hộ khẩu thường trú: Số 48/2 Đường LVC, Phường ML, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ : Không có nơi cư trú ổn định); nghề ngK: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới T1h: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H1 và bà Nguyễn Thị B ch Đ; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Trần Cẩm Nh (sinh năm: 1998) vào năm 2017 và có 01 người con (sinh năm: 2017); tiền án tiền sự: Không; nhân thân: T i bản án số 43/2014/HSST ngày 11/3/2014, Tòa án nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” ngày 31/8/2015 chấp hành xong toàn bộ bản án; bị bắt t m giam từ ngày 13/4/2018.
(Bị cáo có mặt t i phiên tòa).
- Bị hại:
1. Ông Trần Trọng Th sinh năm: 1977; nơi cư trú: Số 133 Đường PH, Phường
B, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
2. Anh Vũ Đức T1 sinh năm: 1991; nơi cư trú: Số 1984 Đường PTH, Phường S,
Quận T Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3. Chị Nguyễn Thị Lệ U sinh năm: 1992; nơi cư trú: Số 258/21 Đường DBT,
Phường H2, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
4. Chị Nguyễn Thị Ngọc G sinh năm: 1988; nơi cư trú: Số 258/21 Đường DBT,
Phường H2, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
5. Chị Nguyễn Thị Minh Y sinh năm: 1990; nơi cư trú (HKTT: Ấp 2 xã Hòn
Tre huyện KH tỉnh KG; chỗ : Nhà không số đối diện nhà số 139 Đường DN, Phường H2, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh). (Có mặt).
6. Anh Hồ Trường S sinh năm: 1993; nơi cư trú (HKTT: Ấp An Hòa xã MAH,
huyện LV, tỉnh ĐT; chỗ : Số 5 đường số 06 KDC BĐ, Phường S, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh). (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, Ng vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Lâm Thị Ngọc M sinh năm: 1980; nơi cư trú: Số 1234 Đường PTH,
Phường N, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
2. Chị Trần Thị Quỳnh A sinh năm: 1993; nơi cư trú: Ấp Th nh S 2A, xã PT,
huyện XM tỉnh V. (Vắng mặt).
3. Ông Lê Văn Chí E sinh năm: 1958; nơi cư trú: Ấp Bình Lợi xã BC huyện
CP tỉnh AG. (Vắng mặt).
4. Chị Lê Thị Diễm X sinh năm: 1999; nơi cư trú (HKTT: Ấp Bình Lợi xã BC,
huyện CP tỉnh AG; chỗ : Nhà không số đối diện nhà số 139 Đường DN, Phường H2, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh). (Có mặt).
5. Anh Hồ Trường R sinh năm: 1990; nơi cư trú: Ấp An Hòa, xã MAH, huyện
LV, tỉnh ĐT. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ, ngày 10/4/2018 tổ tuần tra Công an Phường N, Quận T tuần tra đến trước số nhà 85/4/29 đường BMT, Phường N, Quận T thì phát hiện Nguyễn Trung Ng điều khiển xe gắn máy biển số 59D1-020.28 ch Phan Thanh K có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra và thu giữ của K 01 điện tho i di động hiệu Nokia 01 thanh đoản bằng inox dài 15cm hình chữ L 01 thanh đoản bằng inox hình chữ T 04 đầu đoản bằng inox 01 cái mỏ lết dài khoảng 25cm. Ng và K khai nhận đó là dụng cụ làm pG tiện trộm cắp tài sản, nên Công an Phường N, Quận T lập biên bản vụ việc rồi chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T để điều tra xử lý.
T i Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T Nguyễn Trung Ng và Phan Thanh K khai nhận: Do có mối quan hệ b n bè quen biết và để có tiền tiêu xài, Ng và K bàn cùng nhau thực hiện các vụ trộm tài sản trên địa bàn Quận T cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 03 giờ, ngày 12/01/2018, K giấu cây mỏ lết trong người rồi đi bộ đến nhà ông Trần Trọng Th t i số 133 Đường PH, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện cửa nhà khóa ổ khóa ngoài, nên dùng mỏ lết bẻ gãy khoen cửa K vào trong nhà lấy trộm chiếc xe gắn máy hiệu SH biển số 59L1-667.28 dẫn ra ngoài đường rồi đẩy bộ đến gần hồ bơi Hòa Bình trên đường Đường PH, Phường B, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp nam thanh niên tên Tý chùa khoảng 30 tuổi (không rõ lai lịch địa chỉ) bán chiếc xe trên được 9.000.000 đồng. Bị mất tài sản anh Th đến Công an Phường Phường B, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh trình báo.
Ngày 16/7/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh kết luận trị giá xe gắn máy biển số 59L1-667.28 là 31.150.000 đồng. Ông Trần Trọng Th yêu cầu bồi thường trị giá chiếc xe với số tiền như trên.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 03 giờ, ngày 12/3/2018, Ng và K gặp nhau t i tiệm game bắn cá trên đường số 23 Phường B, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó K điều khiển xe Wave biển số 59D1-020.28 (xe của K) ch Ng đến trước số 1984 Đường PTH, Phường S, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện nhà khóa cửa bên ngoài, nên K đứng ngoài cảnh giới để Ng đi bộ đến dùng mỏ lết bẻ gãy khoen cửa rồi Ng đi ra ngoài đường làm nhiệm vụ cảnh giới để K vào trong nhà lấy trộm chiếc xe gắn máy hiệu AirBlade biển số 59L2-416.03 của anh Vũ Đức T1 dẫn ra ngoài, rồi cả hai đến khu vực hẻm C9 đường Đường PH, xã BH, huyện BC Thành phố Hồ Chí Minh. T i đây Ng liên hệ và bán xe trên cho một người đàn ông khoảng 60 tuổi (không rõ lai lịch địa chỉ) được 10.000.000 đồng. Bị mất tài sản, anh T1 đến Công an Phường S, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh trình báo.
Ngày 13/6/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh kết luận trị giá xe gắn máy biển số 59L2-416.03 là 34.000.000 đồng. Anh Vũ Đức T1 yêu cầu bồi thường trị giá chiếc xe với số tiền như trên.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 03 giờ, ngày 23/3/2018, Ng điều khiển xe gắn máy hiệu Wave biển số 59D1-020.28 ch K đến trước số 258/21 Đường DBT, Phường H2, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì Ng phát hiện cửa nhà khóa ngoài K xuống xe đi đến nhìn qua khe cửa phát hiện bên trong sân nhà có dựng nhiều xe gắn máy và có cắm sẵn chìa khóa xe. Sau đó Ng điều khiển xe ch K về l i tiệm game bắn cá trên đường 23 Phường B, Quận T để gửi xe K m yên xe lấy cây mỏ lết giấu trong người rồi cùng Ng đón xe ôm quay l i nhà số 258/21 Đường DBT, Phường H2, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh. Ng đứng ngoài cảnh giới còn K dùng mỏ lết bẻ gãy khoen cửa K vào trong lấy trộm chiếc xe gắn máy hiệu Mio biển số 72V3-1365 của chị Nguyễn Thị Lệ U dẫn ra ngoài đường đưa cho Ng rồi K tiếp tục vào trong sân lấy trộm chiếc xe gắn máy hiệu Mio biển số 62B1-015.77 của chị Nguyễn Thị Ngọc G đẩy ra ngoài. Sau đó Ng đem xe biển số 62B1-015.77 bán cho 01 người đàn ông khoảng 60 tuổi nêu trên được 2.500.000 đồng còn K ch y xe biển số 72V3- 1365 đến gần tiệm bắn cá trên đường số 10 Phường B, Quận T bán cho 01 thanh niên khoảng 18 tuổi (không rõ lai lịch địa chỉ) được 2.500.000 đồng. Bị mất tài sản chị G đến Công an Phường H2, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh trình báo và giao nộp 01 ổ khóa hiệu Yale có 01 khoen cửa bằng sắt bị gãy còn dính trong ổ khóa.
Ngày 27/4/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh kết luận trị giá xe gắn máy biển số 62B1-015.77 là 8.100.000 đồng; xe gắn máy biển số 72V3-1365 là 5.400.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Lệ U và Nguyễn Thị Ngọc G yêu cầu bồi thường trị giá chiếc xe với số tiền như trên.
Vụ thứ tư: Vào khoảng 01 giờ 52 phút, ngày 29/3/2018, K điều khiển xe Wave biển số 59D1-020.28 ch Ng đến trước nhà số 5 đường số 06 khu dân cư BĐ, Phường S, Quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh thì phát hiện nhà khóa cửa bên ngoài, nên Ng đứng ngoài cảnh giới để K m yên xe lấy cây mỏ lết và cây đoản hình chữ “T” rồi dùng mỏ lết bẻ gãy khoen cửa K vào nhà dùng đoản bẻ khóa công tắc lấy trộm chiếc xe gắn máy hiệu Vision biển số 67D1-464.40 của chị Nguyễn Thị Minh Y rồi đem gửi t i bãi giữ xe chung cư BS, Phường N, Quận T. Sau đó Ng và K quay l i nhà trên K dùng đoản bẻ khóa công tắc lấy trộm chiếc xe gắn máy hiệu AirBlade biển số 66N5-8443 của anh Hồ Trường S rồi cả 02 ch y đến bãi giữ xe chung cư BS gửi chiếc xe biển số 59D1-020.28 và lấy chiếc xe biển số 67D1-464.40. Ng và K điều khiển 02 xe vừa lấy trộm đến khu vực chung cư LG, Phường ML, Quận M2 Thành phố Hồ Chí Minh; t i đây Ng liên hệ với người đàn ông không rõ lai lịch để bán 02 xe trên được 11.000.000 đồng. Sau khi bị mất trộm tài sản trên, anh S đã đến Công an Phường S, Quận T Thành Phố Hồ Chí Minh trình báo và cho biết ngoài mất trộm 02 xe gắn máy nêu trên thì cùng ngày 29/3/2018 còn bị mất trộm thêm 01 chiếc xe gắn máy hiệu Wave biển số 66N5-7917 của chị Tống Thị Diễm Phương và giao nộp 01 USB màu xanh hiệu Kingston chứa đo n clip ghi l i hình ảnh vụ trộm trên. Ngày 30/3/2018, anh S phát hiện chiếc xe gắn máy biển số 66N5-8443 đang để t i bãi giữ xe nhà ga Sài Gòn số 01 Đường NT, Phường Ch, Quận B1 Thành phố Hồ Chí Minh; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T thu giữ chiếc xe trên. Riêng chiếc xe gắn máy biển số 66N5-7917 của chị Phương thì Ng và K không thừa nhận lấy trộm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T tiếp tục điều tra xử lý tiếp vụ án khác.
Ngày 13/6/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh kết luận trị giá xe gắn máy biển số 67D1-464.40 là 25.500.000 đồng và xe gắn máy biển số 66N5-8443 là 8.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Minh Y yêu cầu bồi thường trị giá chiếc xe biển số 67D1-464.40 với số tiền như trên.
Ngày 26/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T trả xe gắn máy biển số 66N5-8443 cho anh Hồ Trường S và anh S không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Ngày 13/4/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T đã kh i tố bắt t m giam đối với Nguyễn Trung Ng và Phan Thanh K về tội “Trộm cắp tài sản”.
T i Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T, Ng và K đã khai nhận hành vi ph m tội nêu trên số tiền bán xe cả hai đã tiêu xài hết.
Vật chứng thu giữ: Đối với biển số 59D1-020.28 qua xác minh xác định do chị Trương Thị Cẩm Dung đứng tên biển số trên qua làm việc chị Dung trình bày không có bị mất biển số xe trên. Qua giám định, xác định số khung số máy chiếc xe gắn máy mang biển số giả (59D1-020.28) đã bị mài, không xác định số nguyên thủy. K khai xe trên mua của 01 thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 1.000.000 đồng, không có hợp đồng mua bán; 01 điện tho i di động hiệu Nokia của Phan Thanh K dùng liên l c cá nhân không dùng vào việc ph m tội.
Qua điều tra chiếc xe gắn máy hiệu Vision biển số 67D1-464.40 do ông Lê Văn Chí E đứng tên chủ s E, ông E cho con gái là Lê Thị Diễm X (nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên); sau đó chị X cho b n là Nguyễn Thị Minh Y mượn để làm phương tiện đi l i. Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Mio biển số 72V3-1365 do chị Trần Thị Quỳnh A đứng tên chủ s E sau đó chị A đã bán l i chiếc xe này cho chị Nguyễn Thị Lệ U (nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên). Đối với chiếc xe gắn máy hiệu SH biển số 59L1-667.28 do bà Lâm Thị Ngọc M đứng tên chủ s E sau đó bà M bán l i cho anh ruột là ông Trần Trọng Th (nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên). Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Mio, biển số 62B1- 015.77 do chị Nguyễn Thị Ngọc G đứng tên chủ s E. Đối với chiếc xe gắn máy biển số 66N5-8443 do anh Hồ Trường R đứng tên chủ s E sau đó anh R cho em ruột là Hồ Trường S (nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên).
Đối với đối tượng Tý chùa và người đàn ông cùng nam thanh niên có hành vi tiêu thụ tài sản do Ng và K ph m tội mà có do không xác định được lai lịch địa chỉ; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T không có cơ s xử lý.
Bản cáo tr ng số 192/CT-VKS ngày 24/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung Ng về tội “Trộm cắp tài sản” theo các điểm: c, g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và truy tố bị cáo Phan Thanh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
T i phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng các điểm: c, g Khoản 2 Điều 173; điểm g Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
+ Xử ph t: Bị cáo Nguyễn Trung Ng mức án từ 05 (Năm) năm đến 06 (Sáu) năm tù;
- Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm g Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
+ Xử ph t: Bị cáo Phan Thanh K mức án từ 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng đến 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù;
- Về hình ph t bổ sung: Không áp dụng hình ph t bổ sung đối với các bị cáo (do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và khó thi hành).
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt h i về tài sản cho những bị h i theo yêu cầu với tỷ lệ bồi thường chia đều cho từng bị cáo đối với từng vụ chiếm đo t mà các bị cáo tham gia và được hư ng lợi. Riêng đối với những vụ mà các bị cáo tự hư ng lợi thì các bị cáo phải tự chịu trách nhiệm bồi thường theo yêu cầu của bị h i.
- Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh; Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
T i phiên tòa các bị cáo: Nguyễn Trung Ng, Phan Thanh K đã khai nhận: Để có tiền tiêu xài các bị cáo đã cùng nhau thực hiện hành vi lén lút bí mật để chiếm đo t tài sản sơ h trong quản lý của bị h i, trên địa bàn Quận T Thành phố Hồ Chí Minh; trong khoảng thời gian ngắn (từ ngày 12/3/2018 đến ngày 29/3/2018). Ngoài ra cá nhân bị cáo Phan Thanh K còn thực hiện hành vi lén lút bí mật chiếm đo t 01 chiếc xe gắn máy hiệu SH, biển số 59L1-667.28 vào khoảng 03 giờ ngày 12/01/2018 của bị h i ông Trần Trọng Th t i số nhà 133 Đường PH, Phường B, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung Cáo tr ng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tài sản mà các bị cáo chiếm đo t của các bị h i, theo sự thừa nhận của các bị cáo và qua kết luận định giá tài sản xác định được như sau:
Vụ thứ 1: Trị giá tài sản là 31.150.000 đồng (do một mình bị cáo K thực hiện).
Vụ thứ 2: Trị giá tài sản là 34.000.000 đồng.
Vụ thứ 3: Tổng trị giá tài sản là 13.500.000 đồng.
Vụ thứ 4: Tổng trị giá tài sản là 33.500.000 đồng.
Như vậy tổng trị giá tài sản mà hai bị cáo cùng tham gia chiếm đo t là 81.000.000 đồng và tổng trị giá tài sản mà bị cáo K tham gia chiếm đo t là 112.150.000 đồng.
Do đó với hành vi ph m tội và trị giá tài sản bị chiếm đo t; đã có đủ cơ s để kết luận: Các bị cáo Nguyễn Trung Ng, Phan Thanh K đã ph m vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội ph m và hình ph t được quy định t i Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xét về T1h đồng ph m và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung hình ph t:
Đây là vụ án có đồng ph m nhưng mang T1h chất giản đơn không có T1h tổ chức và câu kết chặt chẽ với nhau; vai trò của cả hai bị cáo là tương đối ngang nhau (các bị cáo thay phiên nhau trong việc cảnh giới trong việc tiếp cận chiếm đo t tài sản cũng như sau khi chiếm đo t được tài sản thì đem đi tiêu thụ tài sản). Vì vậy khi quyết định hình ph t sẽ cân nhắc về vai trò đồng ph m và mức độ tham gia tội ph m của từng bị cáo theo quy định t i Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Với tổng trị giá tài sản mà các bị cáo tham gia chiếm đo t qua định giá là trên 50.000.000 đồng (thuộc trường hợp tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng). Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung hình ph t được quy định t i điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Ngoài ra bị cáo Ng đã tái ph m nguy hiểm chưa được xóa án tích mà l i thực hiện hành vi ph m tội do cố ý; nên trong lần ph m tội này là tái ph m nguy hiểm theo quy định t i điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Vì vậy bị cáo Nguyễn Trung Ng phải bị xét xử theo quy định t i điểm c và điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và bị cáo Phan Thanh K phải bị xét xử theo quy định t i điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo ph m tội thuộc trường hợp ph m tội 02 lần tr lên; đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định t i điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo.
Về nhân thân: Cả hai bị cáo đều có quá trình nhân thân xấu (bị cáo K mặc dù đã được đương nhiên xóa án tích, bị cáo Ng đã từng nhiều lần bị xét xử và bị đưa đi cưỡng bức lao động) , nhưng vẫn không chịu tu dưỡng sửa chữa phấn đấu thành công dân sống có ích cho xã hội mà l i tiếp tục thực hiện hành vi ph m tội do cố ý; nên cũng cần lưu ý khi quyết định hình ph t đối với từng bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Taïi cô quan ñieàu tra vaø taïi phieân toøa, các bò caùo khai baùo thaønh khaån, tỏ ra aên naên hoái caûi về lỗi lầm đã gây ra; ñeå từ đó Hội đồng xét xử xem xét giaûm nheï cho từng bò caùo moät phaàn veà hình phaït theo quy ñònh taïi ñieåm s Khoaûn 1 Ñieàu 51 Boä luaät hình söï naêm 2015 (ñöôïc söûa ñoåi, boå sung naêm 2017) mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
Bản cáo tr ng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh đối với các bị cáo là có cơ s pháp luật đúng người đúng tội mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với T1h chất mức độ ph m tội và nhân thân của từng bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình ph t bổ sung: Theo quy định t i Khoản 5 Ñieàu 173 của Boä luaät hình söï naêm 2015 (ñöôïc söûa ñoåi, boå sung naêm 2017) thì các bị cáo còn có thể bị ph t một số tiền nhất định, để tịch nộp ngân sách nhà nước. Nhưng xét thấy các bị cáo đều thuộc thành phần lao động nghèo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và khó thi hành; nên không áp dụng hình ph t bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
T i phiên tòa bị h i Trần Trọng Th và Nguyễn Thị Minh Y có yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt h i về tài sản bị chiếm đo t (không thu hồi được) theo sự thừa nhận của các bị cáo và theo kết luận định giá tài sản cụ thể như sau:
1/ Bị h i Trần Trọng Th yêu cầu bị cáo Phan Thanh K bồi thường trị giá chiếc xe biển số 59L1 - 667.28 với số tiền là 31.150.000 đồng.
2/ Bị h i Nguyễn Thị Minh Y yêu cầu bị cáo Nguyễn Trung Ng và bị cáo Phan Thanh K liên đới bồi thường trị giá chiếc xe biển số 67D1 - 464.40 với số tiền là 25.500.000 đồng.
Mặc dù vắng mặt t i phiên tòa nhưng các bị h i gồm: Vũ Đức T1, Nguyễn Thị Lệ U, Nguyễn Thị Ngọc G có yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt h i về tài sản bị chiếm đo t (không thu hồi được) theo sự thừa nhận của các bị cáo và theo kết luận định giá tài sản cụ thể như sau:
1/ Bị h i Vũ Đức T1 yêu cầu bồi thường trị giá chiếc xe biển số 59L2 - 416.03 với số tiền là 34.000.000 đồng.
2/ Bị h i Nguyễn Thị Lệ U yêu cầu bồi thường trị giá chiếc xe biển số 72V3 - 1365 với số tiền là 5.400.000 đồng.
3/ Bị h i Nguyễn Thị Ngọc G yêu cầu bồi thường trị giá chiếc xe biển số 62B1 – 015.77 với số tiền là 8.100.000 đồng.
Đối với bị h i Hồ Trường S đã nhận l i tài sản và không có yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác và t i phiên tòa vắng mặt. Đây là quyền tự định đo t của đương sự nên không xem xét giải quyết.
T i phiên tòa, các bị cáo đồng ý chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt h i về những tài sản đã chiếm đo t (không thu hồi được) theo yêu cầu của bị h i và đồng ý bồi thường theo tỷ lệ chia đều đối với từng vụ chiếm đo t tài sản mà các bị cáo đã tham gia và được chia hư ng lợi. Riêng những vụ mà các bị cáo tự chiếm đo t và tự hư ng lợi thì tự chịu trách nhiệm bồi thường cho bị h i. Cụ thể như sau:
- Bị cáo Phan Thanh K bồi thường cho bị h i Trần Trọng Th số tiền là 31.150.000 đồng và bồi thường cho bị h i Nguyễn Thị Lệ U số tiền là 5.400.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Trung Ng bồi thường cho bị h i Nguyễn Thị Ngọc G số tiền là 8.100.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Trung Ng và bị cáo Phan Thanh K mỗi bị cáo bồi thường cho: Bị h i Vũ Đức T1 số tiền là 17.000.000 đồng (34.000.000 đồng/2 = 17.000.000 đồng) và bị h i Nguyễn Thị Minh Y số tiền là 12.750.000 đồng (25.500.000 đồng/2 = 12.750.000 đồng).
Vì vậy các bị cáo phải có trách nhiệm thực hiện việc bồi thường một lần cho các bị h i ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật t i Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Đối với những người có quyền lợi Ng vụ liên quan đến vụ án: Không có yêu cầu gì liên quan đến các tài sản đã bị các bị cáo chiếm đo t như trên và vắng mặt t i phiên tòa. Đây là quyền tự định đo t của đương sự nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng:
- Đối với tài sản bị chiếm đo t được thu hồi, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T Thành phố Hồ Chí Minh đã trả l i chủ s E hợp pháp là đúng theo quy định của pháp luật.
- Đối với những tài sản bị các bị cáo đã chiếm đo t quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T không thu hồi được; nên không có cơ s xem xét xử lý.
- Đối với công cụ pG tiện dùng vào việc ph m tội đã bị thu giữ; hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy;
- Đối với 01 USB hiệu Kingston và 01 ổ khóa hiệu Yale hiện không còn giá trị sử dụng và chủ s E không có yêu cầu nhận l i; nên cần tịch thu và tiêu hủy;
- Đối với xe gắn máy hiệu Wave, màu trắng biển số 59D1-020.28 các bị cáo sử dụng vào việc ph m tội; quá trình điều tra xác định là biển số giả và không xác định được số khung số máy nguyên thủy (đây là pG tiện cấm lưu hành); nên tịch thu tiêu hủy biển số xe và tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước chiếc xe.
-Đối với 01 chiếc điện tho i di động hiệu Nokia màu trắng số Imei: 359991055848623 và 01 sim số 0938383354; đây là tài sản hợp pháp của bị cáo K và không liên quan đến hành vi ph m tội của bị cáo nên trả l i cho bị cáo K.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với Tý chùa người đàn ông và nam thanh niên có hành vi tiêu thụ tài sản do các bị cáo ph m tội mà có do không xác định được lai lịch địa chỉ; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T không có cơ s xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Vì caùc leõ treân,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các điểm: c, g Khoaûn 2 Ñieàu 173; ñieåm g Khoaûn 1 Ñiều 52; ñieåm s Khoaûn 1 Ñieàu 51; Ñieàu 58 của Boä luaät hình söï naêm 2015 (ñöôïc söûa ñoåi, boå sung naêm 2017);
+ Xöû phaït: Bò caùo Nguyễn Trung Ng (tên gọi khác: Cà Rốt) 05 (Năm) năm tù, về toäi “Trộm cắp tài sản”. Thôøi haïn tuø T1h keå töø ngaøy 13/4/2018.
- Căn cứ vào điểm c Khoaûn 2 Ñieàu 173; ñieåm g Khoaûn 1 Ñiều 52; ñieåm s Khoaûn 1 Ñieàu 51; Ñieàu 58 của Boä luaät hình söï naêm 2015 (ñöôïc söûa ñoåi, boå sung naêm 2017);
+ Xöû phaït: Bò caùo Phan Thanh K (tên gọi khác: Chảy) 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù về toäi “Trộm cắp tài sản”. Thôøi haïn tuø T1h keå töø ngaøy 13/4/2018.
- Về hình ph t bổ sung: Không áp dụng hình ph t bổ sung đối với các bị cáo: Nguyễn Trung Ng (tên gọi khác: Cà Rốt), Phan Thanh K (tên gọi khác: Chảy).
- Về trách nhiệm dân sự:
+ Không giải quyết đối với trường hợp của bị h i là anh Hồ Trường S và của những người có quyền lợi Ng vụ liên quan đến vụ án gồm: Bà Lâm Thị Ngọc M chị Trần Thị Quỳnh A, ông Lê Văn Chí E chị Lê Thị Diễm X, anh Hồ Trường R.
+ Căn cứ vào Khoản 1 Ñieàu 48 Boä luaät hình söï naêm 2015 (söûa ñoåi, boå sung naêm 2017); các Điều: 584, 585, 586, 589, 357 và Khoản 2 Điều 468 của Boä luaät daân söï năm 2015 cùng Luật Thi hành án Dân sự;
1/ Buộc bị cáo Phan Thanh K (tên gọi khác: Chảy) chịu trách nhiệm bồi thường thiệt h i về tài sản không thu hồi được cho bị h i là ông Trần Trọng Th, với số tiền là 31.150.000 đồng và bị h i là chị Nguyễn Thị Lệ U, với số tiền là 5.400.000 đồng.
2/ Buộc bị cáo Nguyễn Trung Ng (tên gọi khác: Cà Rốt) chịu trách nhiệm bồi thường thiệt h i về tài sản không thu hồi được cho bị h i là chị Nguyễn Thị Ngọc G, với số tiền là 8.100.000 đồng.
3/ Buộc các bị cáo: Nguyễn Trung Ng (tên gọi khác: Cà Rốt), Phan Thanh K (tên gọi khác: Chảy); mỗi bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường thiệt h i về tài sản không thu hồi được cho bị h i là anh Vũ Đức T1 với số tiền là 17.000.000 đồng và bị h i là chị Nguyễn Thị Minh Y với số tiền là 12.750.000 đồng.
Tổng cộng bị cáo Nguyễn Trung Ng (tên gọi khác: Cà Rốt) chịu trách nhiệm thực hiện việc bồi thường thiệt h i về tài sản không thu hồi được với tổng số tiền là 37.850.000 đồng.
Tổng cộng bị cáo Phan Thanh K (tên gọi khác: Chảy) chịu trách nhiệm thực hiện việc bồi thường thiệt h i về tài sản không thu hồi được với tổng số tiền là 66.300.000 đồng.
Thi hành việc bồi thường một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật t i Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 Boä luaät hình söï naêm 2015 (ñöôïc söûa ñoåi, boå sung naêm 2017) và Khoản 2 Ñieàu 106 của Boä luaät toá tuïng hình söï năm 2015;
+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 biển số 59D1 – 020.28; 01 USB hiệu Kingston; 01 ổ khóa hiệu Yale, mã số Y110/60, màu vàng, có 01 khoen cửa màu trắng bị bẻ gãy còn dính trong ổ khóa; 01 thanh đoản kim lo i inox dài 15cm hình chữ L; 01 thanh đoản kim lo i inox dài 11cm ngang 6cm hình chữ T; 04 đầu đoản kim lo i inox; 01 mỏ lết kim lo i dài 25cm.
+ Trả l i cho bị cáo Phan Thanh K (tên gọi khác: Chảy) 01 chiếc điện tho i di động hiệu Nokia màu trắng số Imei: 359991055848623 và 01 sim số 0938383354.
+ Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe gắn máy hiệu Wave màu trắng (gắn biển số giả 59D1-020.28).
(Vật chứng theo phiếu nhập kho vật chöùng số 178/PNK ngaøy 10/8/2018 cuûa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Ñieàu 135, Ñieàu 136 Boä luaät toá tuïng hình söï năm 2015 vaø Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo: Nguyễn Trung Ng (tên gọi khác: Cà Rốt), Phan Thanh K (tên gọi khác: Chảy); mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000đñoàng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo Nguyễn Trung Ng (tên gọi khác: Cà Rốt) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 1.892.500 đồng.
Bị cáo Phan Thanh K (tên gọi khác: Chảy) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 3.315.000 đồng.
Thi hành t i Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Keå töø ngaøy baûn aùn coù hieäu löïc phaùp luaät, beân ñöôïc thi haønh aùn coù ñôn yeâu caàu thi haønh aùn (đối với khoaûn tieàn bồi thường thiệt h i veà taøi saûn theo mức như trên), cho đến khi thi hành án xong khoản tiền bồi thường thiệt h i veà taøi saûn; hàng tháng bên phải thi hành án coøn phaûi chịu khoản tiền laõi của số tiền còn phải thi hành án theo möùc laõi suaát quy định t i Khoản 2 Điều 468 của Boä luaät daân söï năm 2015.
Tröôøng hôïp baûn aùn ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc Ñieàu: 6, 7 vaø 9 Luaät Thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi Ñieàu 30 Luaät Thi haønh aùn daân söï.
Các bò caùo và bị h i có mặt coù quyeàn khaùng caùo baûn aùn trong thôøi haïn 15 (mười lăm) ngaøy; keå töø ngaøy tuyeân aùn. Người có quyền lợi Ng vụ liên quan đến vụ án có mặt t i phiên tòa; có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi Ng vụ của mình trong thời h n 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị h i vắng mặt t i phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 (mười lăm) ngày; kể từ ngày bản án được tống đ t hoặc niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi Ng vụ liên quan đến vụ án vắng mặt t i phiên tòa; có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi Ng vụ của mình trong thời h n 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đ t hoặc niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - PC.53 CA TP.HCM; - S Tư pháp TP.HCM; - VKSND Q.8; - Chi cục THADS Q.8; - CQĐT CAQ.8; - CQTHAHS Q.8; NTG CAQ.8; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: VT hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trọng Trúc |