- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hoàng Văn D phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:194/2018/HS-ST Ngày 26-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Vân Hải
Ông Quách Văn Đạt
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành - Thư ký TAND huyệ n Tiên Du
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Nhân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 201/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1999
Nơi cư trú: Thôn X, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12
Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông Nguyễn Ngọc L và con bà Trịnh Thị Đ
Vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2018 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh – Có mặt tại phiên tòa.
2. Hoàng Văn D, sinh năm 1998
Nơi cư trú: Thôn X, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12
Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông Hoàng Văn C và con bà Trịnh Thị P
Vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2018 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tiên Du – Có mặt tại phiên tòa
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 04/10/2018 có người bạn mới quen tên L liên lạc với Nguyễn Ngọc S hỏi mua ma túy. S đồng ý và có nhờ Hoàng Văn D mang ma túy ra điểm hẹn bán cho L. D đồng ý và cầm 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng do S đưa rồi điều khiển xe máy Honda Dream BKS 99H5-3277 đến gặp L. Khi D bán ma túy cho L và thu tiền tại điểm hẹn đường làng thôn X thì bị cơ quan Công an huyện T phối hợp với Công an xã L phát hiện bắt quả tang. Cơ quan Công an thu giữ của L 01 gói giấy bạc mầu trắng bên trong có 01 túi nilon mầu trắng chứa chất tinh thể màu trắng ( ký hiệu M1) và 01 điện thoại di động Mobistar. Thu của D số tiền 300.000 đồng, 01 chiếc xe máy Honda Dream BKS 99H5-3277. Cùng ngày sau khi biết D bị lực lượng Công an bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên S đã đến cơ quan Công an đầu thú. Đồng thời S giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6.
Ngày 04/10/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của S tại thôn Xuân Hội, xã Lạc Vệ, thu giữ 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L mầu vàng, bên trong chứa 01 túi nilon mầu trắng chứa chất tinh thể mầu trắng (ký hiệu M2). Tại Kết luận giám định số 1035/KLGĐMT-PC09 ngày 05/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận:
“Chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,0962 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine;
Chất tinh thế màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2 có khối lượng 0,8887 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine.”
Với nội dung trên , Cáo trạng số 157/CTr - VKS ngày 12/11/2018 của Viện kiể m sá t nhân dân huyệ n Tiên Du đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tiên Du để xét xử các bị cá o Nguyễn Ngọc S, Hoàng Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoả n 1 Điề u 251 Bộ luậ t hì nh sự .
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo S khai nhận: Bị cáo và D là bạn bè và cùng sử dụng chất ma túy từ năm 2018. Để có tiền phục vụ nhu cầu của bản thân bị cáo đã nảy sinh ý định bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Chiều ngày 04/10/2018 có người bạn mới quen tên L liên lạc hỏi mua ma túy của bị cáo với giá 300.000 đồng. Bị cáo đồng ý và nhờ D mang ma túy đi bán cho L. Bị cáo đưa cho D 01 gói ma túy. Sau đó D điều khiển xe máy đến điểm hẹn gặp L bán ma túy. Sau khi biết D bị Công an bắt khi bán ma túy cho L nên bị cáo đã ra đầu thú và giao nộp chiếc điện thoại di động Iphone 6. Cùng ngày Công an kiểm tra nhà bị cáo phát hiện phía sau bức tranh mừng thọ treo trên tường nhà có 01 gói ma túy. Mục đích bị cáo cất giấu ma túy để khi có ai hỏi mua thì bán kiếm lời.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo D trình bày đã nghe rõ lời khai nhận của bị cáo S, thừa nhận là đúng. Chiều ngày 04/10/2018 khi bị cáo đang chơi ở nhà S thì được S nhờ đi bán ma túy cho L. Bị cáo đồng ý và cầm 01 gói ma túy S đưa để mang đi bán cho L. Sau đó bị cáo điều khiển xe máy Honda Dream mượn của bác họ đến chỗ hẹn với L. Khi gặp nhau bị cáo đưa gói ma túy cho L và cầm số tiền 300.000 đồng L trả. Đúng lúc này thì bị Công an phát hiện, thu giữ của bị cáo số tiền 300.000 đồng và chiếc xe máy. Bị cáo chỉ bán ma túy hộ S và không biết nguồn gốc, số ma túy tại nhà S.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 157/CT- VKS ngày 12/11/2018. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hoàng Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1,5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 36 đến 40 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/10/2018. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đến 7.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn D từ 24 đến 28 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/10/2018.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư chứa mẫu vật còn lại sau giám định.
Tịch thu sung công 300.000 đồng; 01 điện thoại di động Mobistar; 01 điện thoại di động Iphone 6.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội , không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hì nh phạ t.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒ A Á N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 04/10/2018 tại khu vực đường làng thôn X, xã L, huyện T, các bị cáo S, D có hành vi bán 0,0962 gam ma túy loại Methamphetamine cho đối tượng L với giá 300.000 đồng. Như vậy hành vi các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đối với 0,8887 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ nhà bị cáo S, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo S đều khai nhận mục đích cất giấu ma túy trong nhà khi nào có ai hỏi thì bán kiếm lời. Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo S tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác nên hành vi mua bán trái phép chất ma túy của S phải chịu với tổng trọng lượng là 0,9849 gam ma túy loại Methamphetamine. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong vụ án này các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công cụ thể nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo S có vai trò chính khi là người khởi xướng, giao cho bị cáo D bán mang túy. Nguồn gốc số ma túy là của bị cáo S. Bị cáo D có vai trò hạn chế hơn nhưng thực hiện tích cực, trực tiếp đi giao dịch bán ma túy.
Hành vi phạm tội của cá c bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy . Ngoài ra hành vi của cá c bị cáo làm tăng nguy cơ lây truyền vi rút HIV trong cộng đồng
, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển tương lai giống nòi, nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác, gây khó khăn trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng sử dụng ma túy. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Sau khi sự việc bị phát giác bị cáo S đã ra đầu thú. Vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo S được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội với mục đích thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 300.000 thu của bị cáo D là tài sản dùng vào mục đích mua bán ma túy cần tịch thu sung công. Đối với chiếc điện thoại di động Mobistar của đối tượng L và điện thoại di động Iphone 6 của bị cáo S là công cụ liên lạc trong quá trình phạm tội, Hội đồng xét xử thấy còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Liên quan trong vụ án có đối tượng L mua ma túy của bị cáo S lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra truy tìm và tiến hành xác minh nhưng chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra, bị cáo S khai đã mua số ma túy mà Công an thu giữ được tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh của người thanh niên không quan biết với giá 1.000.000 đồng. Tuy nhiên bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với anh Khoát là người lái xe ôm chở đối tượng L đi đến khu vực thôn Xuân Hội mua ma túy. Khi thuê anh Khoát chở xe ôm, đối tượng L không nói mục đích nên không có căn cứ để xử lý.
Khi đi bán ma túy, bị cáo D có điều khiển chiếc xe máy Honda Dream, BKS 99H5-3277. Quá trình điều tra xác định đây là xe ông Trần Văn H bác họ bị cáo của D. Ngày 04/10/2018 bị cáo D mượn xe của ông H để đi chơi. Vì vậy ngày 07/11/2018, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe cho ông H là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1,5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 (đối với bị cáo S) Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hoàng Văn D phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt. Xử phạt các bị cáo:
Nguyễn Ngọc S 40 (Bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/10/2018.
Hoàng Văn D 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/10/2018.
Phạt bổ sung mỗi bị cáo 5.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong theo quy định, có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh và chữ ký của giám định viên chứa mẫu vật còn lại sau giám định;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 300.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu ghi, màn hình máy màu đen, máy có gắn sim; 01 điện thoại di động Mobiistar màu đen trắng, máy có gắn thẻ sim.
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2018).
4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận; - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Tiên Du; - Công an huyện Tiên Du; - Chi cục THADS huyện Tiên Du; - Những NTGTT; - Lưu HS, VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨ M PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Trường |