vanban.org

Bản án 1939/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/10/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC Quy định v…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1939/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27-10-2022
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy Tiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

2. Ông Nguyễn Thành Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Quyên– Kiểm sát viên.

Ngày 27/10/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 177/2020/TLST-HNGĐ ngày 08/6/2020 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5450/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hà Văn D, sinh năm 1987. (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 98/1 ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Trịnh Ngọc Tuyết N, sinh năm 1993. (vắng mặt)

Địa chỉ: X, Y 8-5-37, Japan (Nhật Bản).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 14/5/2020 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Hà Văn D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trịnh Ngọc Tuyết N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 31, quyển số 01/2013 ngày 04/02/2013. Sau khi kết hôn, bà N quay về Nhật Bản sinh sống và làm việc, còn ông vẫn ở lại Việt Nam. Do xa cách địa lý nên hai bên không có điều kiện quan tâm, chăm sóc cho nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng dần phai nhạt, phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết. Ông xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà N. Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có. Vì bận việc, ông Hà Văn D yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án. Bị đơn là bà Trịnh Ngọc Tuyết N, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, hòa giải và xét xử vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản theo công văn số 829/TATP-TGĐVNCTN ngày 21/10/2020 nhưng không có kết quả. Ngày 13/12/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có văn bản số 824/TTTPDS –TA30 ủy thác cho Bộ Ngoại giao Nhật Bản theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu bà Trịnh Ngọc Tuyết N có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc ông Hà Văn D khởi kiện yêu cầu ly hôn. Đến ngày mở phiên tòa, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không nhận được văn bản của Bộ Tư pháp về kết quả tống đạt văn bản cũng như không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của ông Hà Văn D và ông Hà Văn D không có mặt. Ngày 13/6/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn số 412/TATP-TGĐVNCTN gửi Bộ Tư pháp với nội dung đề nghị Bộ Tư pháp thông báo kết quả ủy thác tư pháp đối với bà Trịnh Ngọc Tuyết N, sinh năm 1993 cư trú tại địa chỉ Osakafu Yaoshi, Yasunakacho 8-5-37, Japan. Ngày 13/7/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn số 442/TATP-TGĐVNCTN (Lần 2) gửi Bộ Tư pháp đề nghị thông báo kết quả Ủy thác tư pháp. Tuy nhiên, đến ngày xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không nhận được văn bản về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp của Bộ Tư pháp; Bà Trịnh Ngọc Tuyết N cũng vắng mặt. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về nội dung, Kiểm sát viên phân tích yêu cầu của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn là phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét yêu cầu của nguyên đơn là ông Hà Văn D, Hội đồng xét xử nhận thấy ông D và bà Trịnh Ngọc Tuyết N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy, căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn hiện cư trú tại nước Nhật Bản nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai, thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 474, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu của ông Hà Văn D yêu cầu ly hôn bà Trịnh Ngọc Tuyết N, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của ông D (ông D cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời khai của ông) thì thực tế sau khi kết hôn hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn cho đến nay, ông D và bà N không có quá trình chung sống lâu dài, do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay, ông D và bà N đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông D yêu cầu ly hôn bà Trịnh Ngọc Tuyết N là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Ông Hà Văn D khai không có.

Tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Ông Hà Văn D khai không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho ông Hà Văn D ly hôn bà Trịnh Ngọc Tuyết N là phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí, chi phí tố tụng khác: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông Hà Văn D phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về phí ủy thác tư pháp và các chi phí tố tụng khác ông Hà Văn D chịu theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Ông Hà Văn D và bà Trịnh Ngọc Tuyết N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 273, Điều 277, Điều 278, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Căn cứ Thông tư 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự. Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu của ông Hà Văn D. Quan hệ hôn nhân: Ông Hà Văn D được ly hôn bà Trịnh Ngọc Tuyết N. Giấy chứng nhận kết hôn số 31, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04 tháng 02 năm 2013 cho ông Hà Văn D và bà Trịnh Ngọc Tuyết N không còn giá trị pháp lý. Con chung: Không có. Tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có. 2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hà Văn D chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) được cấn trừ vào Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0091688 ngày 05/6/2020 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Ông Hà Văn D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Đối với bà Trịnh Ngọc Tuyết N thời hạn kháng cáo bản án là 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ