vanban.org

Bản án 193/2025/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 22/09/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Châu Tuấn N, sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 10/2025/HSST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng.

Tuyên bố bị cáo Châu Tuấn N phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Châu Tuấn N cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Châu Tuấn N, sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 10/2025/HSST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2025/HSPT
Ngày: 22-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Rung K’Nhơn

Ông Nguyễn Thành Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đạt Nguyên – Thư ký Tòa án, Tỏa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự phúc thẩm thụ lý số 175/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo Châu Tuấn N, do có kháng cáo của bị cáo Châu Tuấn N đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 10/2025/HSST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Châu Tuấn N, sinh ngày 17/6/2004 tại Ninh Thuận. Căn cước công dân: 058204000659. Nơi cư trú: thôn N, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Song C, sinh năm: 1967 và bà Đặng Thị S, sinh năm: 1967, vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày 14/02/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực 4 - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh L, có mặt.

Ngoài ra còn có bị cáo Nguyễn Ngọc Q không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

- Bị hại: Ông Phạm Đức T, sinh năm: 2006; cư trú tại: thôn D, xã S H, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Đức T1, sinh năm: 2001; cư trú tại: thôn D, xã S H, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 25/11/2024, Nguyễn Ngọc Q và Châu Tuấn N đi nhậu cùng một số người ở quán cháo vịt bên hông bưu điện Đ thuộc đường P, thị trấn L, huyện Đ. Nhóm của Q ngồi nhậu đến khoảng 24 giờ 00 phút thì thấy có 02 thanh niên đi xe máy ngang qua dừng lại bên kia đường và nhìn về phía nhóm của Q đang nhậu, sau đó 02 nam thanh niên quay xe lại rồi mới quay ra hướng Quốc lộ B đi lên khu vực tượng đài. Do trước đó Q bị 02 thanh niên chưa rõ dọa đánh nên nói với N là có biết 02 thằng đó không thì N nói không biết nữa để chạy đến coi thử. Quyền nhờ N chở đi về phòng trọ lấy hung khí là con dao tự chế cán bằng sắt dài khoảng 60cm. Khi lấy được hung khí thì N điều khiển xe Vision màu đen biển kiểm soát 85F1-350.45 chở Q chạy đến khu vực tượng đài thì thấy 02 nam thanh niên là Phạm Đức T1, sinh năm 2001 chở người ngồi sau là Phạm Đức T, sinh năm 2006, cả hai đều trú tại huyện H, tỉnh Bình Thuận đang điều khiển xe đi chậm sát bên lề. N chạy lên áp sát thì Q có nói “Tụi mày nhìn gì” rồi dùng tay phải đang cầm dao tự chế chém từ trên xuống đỉnh đầu của Phạm Đức T đang ngồi sau xe và có đội mũ bảo hiểm, T dơ tay lên đỡ nên bị lưỡi dao chém đứt lìa hoàn toàn 02 ngón tay áp út và ngón út. Khi Q chém xong thì N đạp xe của T1 và T ngã xuống đường, N và Q xuống xe, N dùng tay đấm vào mặt Phạm Đức T1.

Khi thấy T chảy nhiều máu thì N và Q quay xe bỏ đi về lại chỗ nhậu và Q có nói với nhóm bạn đang ngồi nhậu là tao mới chém thằng kia bị đứt tay rồi, thôi đi về. Nghe Q nói vậy thì ai về nhà nấy, N chở Q về phòng trọ, sau đó Q đến khu vực đường C để vứt bỏ hung khí.

Bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 783/KLTTCT - PYLĐ ngày 31/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định của Phạm Đức T là 32%, tổn thương do vật sắc gây nên.

Tình tiết giảm nhẹ: Nguyễn Ngọc Q, Châu Tuấn N sau khi phạm tội đã ra đầu thú, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Về vật chứng: Hung khi các đối tượng gây thương tích cho Phạm Đức T hiện không thu hồi được.

- Xe Vision màu đen biển kiểm soát 85F1-350.45 qua xác minh xác định chủ sở hữu là bà Đặng Thị S, sinh năm: 1967, trú tại N, tỉnh Ninh Thuận – là mẹ của Châu Tuấn N. Bà S không biết việc N sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội. Khoảng tháng 12/2024 N đã bán cho một người không rõ nhân thân lại lịch nên hiện không thu giữ được. Về trách nhiệm dân sự: Phạm Đức T1 yêu cầu bồi thường điều trị thương tích và sửa xe số tiền 4.000.000đ, Phạm Đức T yêu cầu bồi thường điều trị thương tích số tiền 250.000.000đ, hiện các bị cáo chưa bồi thường.

Tại Bản Cáo trạng số 123/CT-VKSĐT ngày 26 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc Q và Châu Tuấn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Bản án số 10/2025/HSST ngày 22 tháng 7 năm 2025; Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng đã xử:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Q và Châu Tuấn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt ngày 05/02/2025.

Xử phạt bị cáo Châu Tuấn N 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt ngày 14/02/2025.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 02/2022-NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Ghi nhận thỏa thuận giữa các bị cáo và bị hại.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Q có nghĩa vụ bồi thường cho anh Phạm Đức T1 số tiền 4.000.000đ, buộc Nguyễn Ngọc Q có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Phạm Đức T số tiền 150.000.000đ. Buộc bị cáo Châu Tuấn N có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Phạm Đức T số tiền 100.000.000đ.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bị cáo.

Ngày 04/8/2025 bị cáo Châu Tuấn N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên hôm nay,

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xét xử, đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của Châu Tuấn N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, không bào chữa gì thêm và chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đơn kháng cáo của bị cáo Châu Tuấn N đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi như phần nội dung Bản án sơ thẩm đề cập, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm; phù hợp lời khai của bị hại, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 25/11/2024, Nguyễn Ngọc Q và Châu Tuấn N đi nhậu cùng một số người ở quán cháo vịt bên hông bưu điện Đ thuộc đường P, thị trấn L, huyện Đ (nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng). Nhóm của Q ngồi nhậu đến khoảng 24 giờ 00 phút thì thấy có 02 thanh niên đi xe máy ngang qua dùng lại bên kia đường và nhìn về phía nhóm của Q đang nhậu rồi quay xe lại rồi mới quay ra hướng Quốc lộ B đi lên khu vực tượng đài. Sau khi về phòng trọ lấy hung khí thì N chở Q đi tìm hai thanh niên nói trên; khi đến khu vực tượng đài gặp hai thanh niên này thì N chạy lên áp sát và Q có nói “Tụi mày nhìn gì” rồi dùng tay phải đang cầm dao tự chế chém từ trên xuống đỉnh đầu của Phạm Đức T đang ngồi sau xe và có đội mũ bảo hiểm, T dơ tay lên đỡ nên bị lưỡi dao chém đứt lìa hoàn toàn 02 ngón tay áp út và ngón út.

Theo Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 783/KLTTCT-PYLĐ ngày 31/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định của Phạm Đức T là 32%, tổn thương do vật sắc gây nên. Vì vậy có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Châu Tuấn N vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.

Xét tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là táo bạo, liều lĩnh, xem thường pháp luật, xem thường tính mạng sức khoẻ của người khác; bản thân các bị cáo có trình độ học vấn nhất định, chỉ vì nghi ngờ bị hại dọa đánh mà các bị cáo đã thực hiện hành vi dùng dao, là hung khí nguy hiểm, tấn công anh T và anh T1. Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ; đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, ngoài ra còn làm mất trật trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh, xử phạt một mức án phù hợp tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi của các bị cáo gây ra như để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội mang tính chất nhất thời; cấp sơ thẩm đã phân hóa tính chất hành vi của từng bị cáo để lượng hình và xử phạt bị cáo N 06 (sáu) năm tù, là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tác động với gia đình để bồi thường toàn bộ số tiền mà cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo bồi thường cho bị hại là 100.000.000đ; bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét hiện nay bị cáo cũng đã nhận thức được tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của mình; sau khi xét xử sơ thẩm có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo để giảm một phần hình phạt tù có thời hạn cho N, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm theo qui định.

Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Châu Tuấn N, sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 10/2025/HSST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng.

Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Châu Tuấn N phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Châu Tuấn N 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/02/2025.

2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo Châu Tuấn N đã bồi thường xong.

3. Về án phí:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Châu Tuấn N không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ