- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN THI NHUNG - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 193/2023/HS-ST Ngày: 18 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hoa Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thiện
Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thành
phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 182/2023/TLST- HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 191/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1975; tại tỉnh Thanh Hóa; nơi thƣờng trú: khu phố B, phƣờng B, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: mua bán ve chai; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Ng (chết) và bà Cao Thị Nh; bị cáo có chồng tên Thiều Văn Ch (chết) và có 03 con (lớn sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2002); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng:
Bị hại: Công ty TNHH A Việt Nam; địa chỉ: đƣờng B, Tân Thắng, phƣờng Sơn
Kỳ, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngƣời đại diện hợp pháp: Bà Hoàng Thị Hg, sinh năm 1990. Địa chỉ tạm trú: khu
phố B, phƣờng B, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng – là đại diện theo ủy quyền. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: Trƣơng Vĩnh N, Nguyễn Thanh T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 06/9/2022, Nguyễn Thị Nh điều khiển xe đạp điện màu đỏ-đen hiệu Hitasa đi nhặt ve chai tại khu vực cổng sau siêu thị A Bình Dƣơng thuộc khu phố Bình Giao, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Lúc này, bà Nh phát hiện tại khu vực phía dƣới lối đi lên bãi đậu xe ô tô trên tầng thƣợng của siêu thị có một số bàn, khung làm bằng inox không có ngƣời trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán lấy tiền. Thực hiện ý định, bà Nh chui qua hàng rào cây xanh vào bên trong khuôn viên siêu thị đi đến vị trí các bàn inox lén lút lấy trộm 02 bàn làm bằng inox, 01 khung làm bằng inox rồi mang số tài sản trên ra bên ngoài hàng rào cây xanh của Siêu thị đặt 01 bàn inox và 01 khung inox lên phía sau xe đạp điện để chở đi bán, 01 bàn inox còn lại do xe đạp điện không chở hết nên bà Nh giấu tại hàng rào cây xanh để quay lại lấy sau. Bà Nh điều khiển xe đạp điện chở số tài sản trên lƣu thông trên đƣờng Đại lộ Độc Lập khoảng 150m thì bị bảo vệ của khu công nghiệp Vsip phát hiện, bắt giữ đồng thời thông báo cho bảo vệ siêu thị A biết sự việc. Sau đó đại diện siêu thị A trình báo tới Công an phƣờng Thuận Giao xử lý. Tại Công an phƣờng Thuận Giao, bà Nhung khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ trên.
Vật chứng thu giữ:
- 02 bàn kim loại (inox) kích thƣớc 1200x500x850mm.
- 01 khung kim loại (inox) kích thƣớc 50x162x4mm.
- 01 xe đạp điện màu đỏ-đen, hiệu Hitasa.
Biên bản và kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An ngày 21/11/2022 kết luận: 02 bàn kim loại (inox) kích thƣớc 1200x500x850mm có giá 6.400.000 đồng; 01 khung kim loại (inox) kích thƣớc 50x162x4mm có giá 1.500.000 đồng (Tổng: 7.900.000 đồng).
Bản Cáo trạng số 192/CT-VKS -TA ngày 11 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Nh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện viện kiểm sát trình bày lời luận tội, v n giữ nguyên quyết định Cáo
trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và đối chiếu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nhân thân tốt nên vận dụng Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Nh mức hình phạt từ 08 (tám) tháng đến 10 (mƣời) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mƣời sáu) tháng đến 20 (hai mƣơi) tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Không
Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu sung quỹ chiếc xe đạp của bị cáo.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Cáo trạng Viện
kiểm sát truy tố. Bị cáo không tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt, xin cho bị cáo đƣợc hƣởng án nhẹ nhất để có điều kiện đi làm vì gia đình có hoàn cảnh quá khó khăn;
- Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn xin vắng
mặt đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy đây là
yêu cầu tự nguyện của đại diện bị hại; Những ngƣời làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử và phù hợp với Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc
truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những ngƣời tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Nh khai nhận hành vi phạm tội đúng nhƣ
nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của đại diện bị hại, ngƣời chứng kiến, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 06/9/2022, tại siêu thị A Bình Dƣơng, thuộc khu phố B, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Thị Nh đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 02 bàn kim loại (inox) kích thƣớc 1200x500x850mm; 01 khung kim loại (inox) kích thƣớc 50x162x4mm; tổng giá trị tài sản bị cáo Nh chiếm đoạt theo định giá là 7.900.000đ (bảy triệu chín trăm nghìn đồng). Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của Nguyễn Thị Nh đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Thị Nh thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hƣởng đến trật tự chung của xã hội, gây
tâm lý hoang mang trong nhân dân, bị cáo nhận thức đƣợc hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật nhƣng vì lợi ích cá nhân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại, tài sản thu hồi và giao trả cho bị hại; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cƣ trú rỏ ràng và việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện không làm ảnh hƣởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật, cố gắng sửa đổi bản thân để trở thành ngƣời tốt.
Đối chiếu với mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự, vật chứng:
+ Đối với các tài sản bị chiếm đoạt: Ngày 11/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản này cho bà Hoàng Thị H, ngƣời đại diện theo ủy quyền của siêu thị A Bình Dƣơng. Bà H đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì khác nên đã giải quyết xong.
+ Đối với 01 xe đạp điện màu đỏ-đen, hiệu Hitasa: quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Nh, bị cáo đã dùng xe trên vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nƣớc.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy
định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật
Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 106, Điều 136; điểm c, d khoản 2 Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng
hình sự;
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Nh phạm tội “Trộm
cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Nh 08 (tám) tháng tù nhƣng cho
hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/7/2023.
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phƣờng B, thành phố Thuận An, tỉnh Bình
Dƣơng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: không.
4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc 01 xe đạp điện màu
đỏ-đen, có dán dòng chữ Hitasa (Biên bản về giao nhận vật chứng ngày 13/6/2023 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự Thuận An).
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Nh phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
6. Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ
ngày tuyên án. Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Lƣu: HS, THAHS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoa Hạnh |