vanban.org

Bản án 193/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 14/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lương Phi C và Dương Phan Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lương Phi C, 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/4/2023. Xử phạt bị cáo Dương Phan Tấn T, 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/4/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lương Phi C và Dương Phan Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2023/HS-ST
Ngày: 14 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ -TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Hoàng Hân.

- Bà Lê Thị Út Tím.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thiệt - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 185/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lương Phi C, sinh ngày 01/01/1992.

Nơi ĐKNKTT: ấp M, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang;

Chỗ ở: ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn D và bà Lê Thị Kim B; anh ruột có 02 người, lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh năm 1986; chung sống như vợ chồng với Phạm Thị Kim T, sinh năm 1990.

Tiền sự: Ngày 23/7/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, bị can chưa chấp hành.

Tiền án: Ngày 20/10/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 24/5/2022, chưa xóa án tích do bị can phạm tội mới trong thời gian quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự.

Nhân thân: Ngày 13/5/2014 phạm tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản, ngày 23/9/2014 Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương ra Quyết định đình chỉ vụ án hình sự do chuyển biến tình hình nên hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội.

- Ngày 15/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là thành phố Phú Quốc) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 21/7/2018, đã xóa tiền sự.

Từ ngày 29/3/2023 đến ngày 01/4/2023 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 02/4/2023, bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ. Đến ngày 05/4/2023 bị khởi tố bị can và bị tạm giam theo Lệnh tạm giam số 52 ngày 05/4/2023 của C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

2. Họ và tên: Dương Phan Tấn T, sinh ngày: 13/12/1993.

Nơi ĐKNKTT: 93, đường V, phường V, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang;

Chỗ ở: 695A, đường N, phường V, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn A và bà Phan Thị N S; anh ruột Dương Phan Tấn Ph sinh năm 1989; vợ: Lê Thị L, sinh năm 1990; con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020.

* Tiền án, tiền sự: Chưa.

* Nhân thân: Ngày 09/9/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 04/10/2021, đã xóa tiền sự.

Từ ngày 29/3/2023 đến ngày 01/4/2023 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 02/4/2023, bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ. Đến ngày 05/4/2023 bị khởi tố bị can và bị tạm giam theo Lệnh tạm giam số 53 ngày 05/4/2023 của C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

- Đỗ Văn Th, sinh năm 1964 (có mặt).

Địa chỉ: Số 268/10D Quang Trung, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 230/10 Mạc Cửu, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Trần Thị Đan Ch, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Số 579/61/3A đường Mạc Cửu, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá,

tỉnh Kiên Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Phan Thị P, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 66 Vàm Trư, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Huỳnh Tấn Ta, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 102/10 Nguyễn Cư Trinh, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 192 Võ Trường Toản, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Phạm Thị Kim T, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Bãi Vòng, xã Hàm Ninh, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Phan Thị Ng, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Số 685A Nguyễn Thị Định, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh

Kiên Giang.

- Nguyễn Thanh P, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 197/10 Quang Trung, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

* Người làm chứng:

- Đào Quý B, sinh năm 1969 (vắng mặt).

Địa chỉ: Lô 19 căm 14, 15, 16 khu dân cư thu nhập thấp, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Phi C và Dương Phan Tấn T quen biết với nhau từ khoảng đầu tháng 03 năm 2023, cả hai đều không có nghề nghiệp và thường cùng nhau sử dụng ma túy. Do không có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên C nảy sinh ý định lấy trộm xe của người khác bán lấy tiền và rủ T đi trộm xe thì T đồng ý. Do không có phương tiện nên trước khi thực hiện hành vi trộm thì T sẽ là người mượn xe mô tô chở C để C thực hiện hành vi trộm và trước khi đi trộm thì C nhặt được 01 cây kéo, C cất giấu trong người để làm công cụ phá khóa xe. Cả hai đã cùng nhau thực hiện 03 vụ trộm cắp T sản là xe mô tô trên địa bàn phường Vĩnh Quang, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng hơn 12 giờ 30 phút ngày 29/3/2023, C đi qua khu vực hẻm 08, đường Vàm Trư, phường Vĩnh Quang thì gặp T đang ở đây, lúc này C rủ T đi trộm thì T đồng ý. Sau đó, T mượn xe máy loại Dream của người tên Tèo mà T quen biết ngoài xã hội nói đi mua thức ăn (T không biết tên thật, địa chỉ của Tèo, T cũng không nhớ biển số xe) chở C đi tìm xe máy để trộm. C và T chạy xe đến hẻm 268, đường Quang Trung, phường Vĩnh Quang thì T chở C chạy vào trong hẻm đến trước nhà số 268/10D, đường Quang Trung, phường Vĩnh Quang thì nhìn thấy một chiếc xe Wave Alpha màu đỏ, biển kiểm soát 68X1-275.46 của ông Đỗ Văn Thạch đậu tại đây nên C kêu T dừng xe cho C xuống rồi T chạy xe đi. Quan sát không có ai trông coi nên C lén lút đi đến tiếp cận xe rồi dùng cây kéo C mang theo sẵn đưa phần lưỡi kéo vào ổ khóa xe vặn mạnh nhiều lần thì phá được khóa xe. C lên xe khởi động chạy đi, trên đường đi thì C nhặt được một biển số xe có đầu số 62 nên thay vào xe mô tô trộm được để tránh bị phát hiện, còn biển số 68X1-275.46 thì C bỏ vào trong bọc đồ của C đem cất giấu. C gọi điện thoại kêu T chạy qua lấy xe đem đi cầm. Sau đó, T lấy xe đem đi cầm cho Huỳnh Tấn T (Nị) được 4.000.000 đồng (Nị không biết xe T lấy trộm) T đưa hết số tiền cầm xe cho C dùng để tiêu xài cá nhân và mua ma túy cho cả hai sử dụng. Đối với Huỳnh Tấn T (Nị) sau khi nhận cầm xe được vài ngày thì đã liên lạc yêu cầu Dương Phan Tấn T chuộc lại xe nhưng Tấn T nói là không có tiền chuộc xe nên Huỳnh Tấn T đã bán xe trên cho một người không quen thông qua mạng xã hội Facebook với số tiền 4.000.000 đồng, (bút lục số 49; 60; 136; 144; 149).

Vụ thứ hai: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30/3/2023 C tiếp tục đi qua khu vực hẻm 08, đường Vàm Trư, phường Vĩnh Quang thì gặp T đang ở đây. Lúc này C rủ T đi tìm xe để trộm thì T đồng ý. Sau đó, T mượn một xe máy màu vàng loại tay xe tay ga HAYATE của người tên Tý mà T quen biết ngoài xã hội (T không rõ tên thật, địa chỉ, không nhớ biển kiểm soát xe) chở C đi ngang qua trường mầm non Bình Minh trên đường Huỳnh Thúc Kháng thì thấy nhiều xe mô tô đậu tại đây nên cả hai quyết định lấy trộm. C kêu T dừng xe lại cho C xuống còn T chạy thẳng qua khu vực chợ 30/4 chờ Cơ. Khi xuống xe thì C nhìn thấy xe mô tô hiệu Future màu trắng, biển kiểm soát 68X1-628.26 của chị Nguyễn Thị Ngọc Thảo đậu trước cổng không ai trông coi nên lén lút dùng cây kéo mang theo sẵn phá khóa xe trên và lên xe khởi động chạy đi, trong cốp xe có sẵn giấy đăng ký xe mô tô trên tên Nguyễn Nhựt Linh. Sau đó, C liên lạc và giao xe cho T đem đi cầm thì T lấy xe đi nhờ người tên Nguyễn Quốc Tân (Tân Ba Hột) cầm giùm, T không nói với Tân là xe trộm cắp mà có. Tân mang xe trên cầm cho Nguyễn Thanh Phát số tiền 10.000.000 đồng, xe có giấy đăng ký xe tên Nguyễn Nhựt Linh và xe không có gắn biển số do bị rớt mất (khi nhận cầm xe thì do xe không có gắn biển số nên Phát hỏi thì Tân nói là do rớt mất nên Phát không có nghi ngờ, không biết T sản do trộm cắp mà có). Sau đó, Tân gặp T và đưa cho T số tiền 6.300.000 đồng nói là tiền cầm xe được, còn lại 3.700.000 đồng thì Tân giữ lại. Số tiền cầm xe được T mang về đưa cho C thì C đưa cho T 1.300.000 đồng, còn lại 5.000.000 đồng C cất giữ, cả hai tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng, (bút lục số 61; 69; 136; 144; 156).

Vụ thứ ba: Vào khoảng 13 giờ ngày 01/4/2023 C đang ở phòng số 103, nhà trọ Cẩm Linh, lô 19 - căn 14, 15, 16A, khu thu nhập thấp, phường Vĩnh Quang thì T gọi điện thoại rủ C đi trộm xe thì C đồng ý và kêu T qua đường Liên Hương rước Cơ. Khoảng 30 phút sau thì T mượn xe mô tô Honda Blade của bà Phan Thị Phượng rước C tìm xe để sơ hở lấy trộm (khi mượn xe thì T nói là đi mua thức ăn nên bà Phượng không biết T chạy xe đi trộm). Khi cả hai chạy xe vào hẻm 597, đường Mạc Cửu, phường Vĩnh Quang đến trước nhà 597/61/3A thì nhìn thấy xe Future màu đỏ, biển kiểm soát 68S1-765.65 của chị Trần Thị Đang Châu đang đậu không ai trông coi nên T dừng xe cho C xuống xe rồi T chạy xe đi đến nơi khác chờ đợi. Quan sát không có ai trông coi nên C lén lút đi đến dùng kéo phá khóa xe rồi khởi động xe chạy đi gặp Tài. Do chưa tìm được nơi tiêu thụ nên T và C đem xe trộm được đến nhà của chị Nguyễn Thị Thúy Huỳnh để gửi xe do T biết được chị Huỳnh cũng thường nhận giữ xe cho người khác (chị Huỳnh không biết xe do T và C trộm cắp). Sau đó lực lượng Công an phát hiện, tiến hành mời T và C về làm việc thì Cơ, T thừa nhận hành vi phạm tội, chị Huỳnh đem Future màu đỏ, biển kiểm soát 68S1-765.65 mà T và C gửi đến C quan Công an giao nộp. C quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lương Phi C tại phòng số 103 nhà nghỉ Cẩm Linh, địa chỉ lô 19 căn 14, 15 ,16 khu tái định cư phường Vĩnh Quang thu giữ biển số xe mô tô số 68X1-275.46, (bút lục số 70; 79; 81; 137 đến 138; 145; 156).

Ngày 05/4/2023, Lương Phi Cơ, Dương Phan Tấn T bị C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố bị can, ra Lệnh tạm giam để điều tra.

* Việc thu giữ T liệu, đồ vật:

- 01 xe Honda Future 125 màu đỏ, biển kiểm soát 68S1-765.65, đã qua sử dụng.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future FI màu trắng đen đỏ, số máy JC90E0294096, số khung RLHJC7659NY136059, xe đã qua sử dụng, không gắn biển số;

- 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 68X1-628.26 tên chủ xe Nguyễn Nhựt Linh;

- 01 biển số xe mô tô số 68X1-275.46 (thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Lương Phi Cơ).

- 01 (một) đoạn video được lưu trữ trong 01 đĩa DVD trích xuất từ dữ liệu Camera quan sát tại địa chỉ 597/61/3, đường Mạc Cửu, phường Vĩnh Quang, đã lưu kèm hồ sơ vụ án, (bút lục số 29; 74; 81 đến 82).

* Tại bản kết luận định giá T sản số 52/KL-HĐĐGTS, ngày 05/4/2023 của Hội đồng định giá T sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá kết luận:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh đỏ, số máy HC12E7241554, số khung RLHHC1254FY241465, biển kiểm soát 68X1-275.46, xe đăng ký lần đầu ngày 13/7/2016, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 29/3/2023 (định giá qua hồ sơ) có giá trị là 8.500.000 đồng/chiếc;

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE FI, màu trắng đen đỏ, số máy JC90E0294096, số khung RLHJC7659NY136059, biển kiểm soát 68X1-628.26, xe đăng ký lần đầu ngày 30/6/2022, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 29/3/2023 (định giá qua hồ sơ) có giá trị là 17.833.000 đồng/chiếc;

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE màu đỏ đen, số máy JC90E0228016, số khung RLHJC7653NY102845, biển kiểm soát 68S1-765.65, xe đăng ký lần đầu ngày 18/02/2022, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 29/3/2023 có giá trị là 18.833.000 đồng/chiếc;

Tổng cộng: 45.166.000 đồng, (bút lục số 84).

* Tại bản cáo trạng số 203/CT-VKSRG ngày 25/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Lương Phi C và bị cáo Dương Phan Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khỏan 1 Điều 51; điểm g,h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Phi C từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khỏan 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Phan Tấn T từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- C quan điều tra đã trao trả cho bị hại là chị Nguyễn Thị Ngọc Thảo: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future FI màu trắng đen đỏ, số máy JC90E0294096, số khung RLHJC7659NY136059, xe đã qua sử dụng, không gắn biển số; 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 68X1-628.26 tên chủ xe Nguyễn Nhựt Linh, (bút lục số 96);

- C quan điều tra đã trao trả cho bị hại là chị Trần Thị Đang Châu: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE màu đỏ đen, số máy JC90E0228016, số khung RLHJC7653NY102845, biển kiểm soát 68S1-765.65 đã qua sử dụng, (bút lục số 97).

Theo quyết định xử lý vật chứng số 62, ngày 22/6/2023 của C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, (bút lục số 95).

Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đề nghị trả lại cho bị hại Đỗ Văn Thạch: 01 biển số xe mô tô số 68X1-275.46, đây là biển số của xe mô tô Wave Alpha màu đỏ của ông Thạch là chủ sở hữu bị các bị can Cơ, T lấy trộm. Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 238, ngày 26/6/2023 của C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, (bút lục số 94).

* Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại Nguyễn Thị Ngọc Thảo đã nhận lại T sản bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường, đối với việc biển số xe bị mất thì Thảo tự khắc phục không yêu cầu bồi thường.

- Bị hại Trần Thị Đang Châu đã nhận lại T sản là xe bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường.

- Ông Đỗ Văn Thạch yêu cầu bồi thường giá trị tương đương xe bị mất trộm là 10.000.000 đồng, bị can T và C đồng ý cùng nhau bồi thường, riêng bị can T đã nhờ mẹ ruột là bà Phan Thị Ngọc Sang bồi thường phần của mình cho ông Thạch với số tiền 5.000.000 đồng, số tiền còn lại C đồng ý bồi thường nhưng chưa bồi thường.

- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là anh Nguyễn Thanh Phát yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng là tiền nhận cầm xe do T cầm cố, hiện bà Phan Thị Ngọc Sang đã tự nguyện bồi thường, khắc phục thay cho bị can T đủ số tiền trên, anh Phát đã nhận đủ tiền nên không yêu cầu gì khác, đối với bà Sang cũng không yêu cầu bị can C trả lại tiền cho bà, (bút lục số 98; 99; 139; 147; 155).

* Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của co quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các T liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Lương Phi C rủ Dương Phan Tấn T tìm tài sản của người khác để lấy trộm thì T đồng ý. Từ ngày 29/3/2023 đến ngày 01/4/2023, C và T đã cùng nhau thực hiện liên tiếp 03 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn phường Vĩnh Quang, cụ thể:

Vào khoảng hơn 12 giờ 30 phút ngày 29/3/2023, C và T lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Wave Alpha màu đỏ, biển kiểm soát 68X1-275.46 của ông Đỗ Văn Thạch đang đậu trước nhà số 268/10D, đường Quang Trung, phường Vĩnh Quang (giá trị T sản qua định giá là 8.500.000 đồng). Tiếp đến, vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30/3/2023, C tiếp tục cùng T lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Future màu trắng, biển kiểm soát 68X1-628.26 của chị Nguyễn Thị Ngọc Thảo đậu trước cổng trường mầm non Bình Minh trên đường Huỳnh Thúc Kháng, phường Vĩnh Quang (giá trị T sản qua định giá là 17.833.000 đồng). Tiếp theo, vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/4/2023, C cùng T tiếp tục lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Future màu đỏ, biển kiểm soát 68S1-765.65 của chị Trần Thị Đang Châu đang đậu trước nhà 597/61/3A, đường Mạc Cửu, phường Vĩnh Quang (giá trị T sản qua định giá là 18.833.000 đồng). Tổng giá trị T sản C và T đã lấy trộm trong 03 vụ trộm cắp là 45.166.000 đồng.

- Từ những căn cứ trên có đủ C sở để kết luận hành vi của các bị cáo Lương Phi C và Dương Phan Tấn T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ý thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì sự tham lam, lười lao động, muốn thụ hưởng tài sản không do mình bỏ sức lao động tạo ra mà các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo đã gây mất trật tự an ninh tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xét xử các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.

Trong vụ án này bị cáo C là người chủ động rủ bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo C cũng là người trực tiếp dùng kéo để phá ổ khóa xe của các bị hại, sau khi tiêu thụ tài sản thì bị cáo C là người nhận được phần chia nhiều hơn. Bản thân bị cáo C là người có nhân thân xấu, có một tiền án về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích và một tiền sự chưa chấp hành. Do đó cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm khắc dành cho bị cáo, đồng thời mức án dành cho bị cáo phải cao hơn mức án dành cho bị cáo T. Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, tại phiên tòa bị cáo và bị hại Đỗ Văn Th đã thỏa thuận được việc bồi thường, đồng thời bị hại Đỗ Văn Th cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Đối với bị cáo T khi nghe bị cáo C rủ đi trộm cắp tài sản thì đã đồng ý và mượn xe để chở bị cáo C đi tìm tài sản để trộm cắp. Hành vi của bị cáo T đã giúp sức tích cực để bị cáo C có thể chiếm đoạt được tài sản của những người bị hại một cách nhanh chóng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo cũng đã thể hiện sự thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động người nhà khắc phục, bồi thường cho các bị hại, đồng thời người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy nên giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo và có một mức án thấp hơn so với bị cáo C là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của nhà nước đối với người thật sự biết ăn năn hối cải, để bị cáo có thời gian học tập cải tạo sớm hòa nhập với cộng đồng.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị can Lương Phi C tái phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. [5]- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại Đỗ Văn Th và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh Ph, bị hại Đỗ Văn Th có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bị cáo C và bị hại Đỗ Văn Th đã thỏa thuận được việc bồi thường thiệt hại và bị hại Thạch đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Cơ. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Thị Ngọc Thảo ,Trần Thị Đang Châu đã nhận lại tài sản là xe bị mất trộm và không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Ông Đỗ Văn Th yêu cầu bồi thường giá trị tương đương xe bị mất trộm là 10.000.000 đồng. Giữa bị hại và các bị cáo thỏa thuận, bị cáo T và C cùng nhau bồi thường, mỗi bị cáo bồi thường cho ông Thạch 5.000.000 đồng. Bị cáo T đã nhờ mẹ ruột là bà Phan Thị Ngọc Sang bồi thường phần của mình, bà Sang không yêu cầu bị cáo T trả lại cho bà nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo C và bị hại Đỗ văn Thạch đối với số tiền 5.000.000 đồng còn lại, bị cáo C đồng ý bồi thường cho bị hại.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là anh Nguyễn Thanh Phát yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng là tiền nhận cầm xe do T cầm cố, hiện bà Phan Thị Ngọc Sang đã tự nguyện bồi thường, khắc phục thay cho bị cáo T đủ số tiền trên, anh Phát đã nhận đủ tiền nên không yêu cầu gì khác, đối với bà Sang cũng không yêu cầu bị cáo C trả lại tiền cho bà nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về Xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị hại Đỗ Văn Thạch: 01 biển số xe mô tô số 68X1-275.46, đây là biển số của xe mô tô Wave Alpha màu đỏ của ông Thạch là chủ sở hữu bị các bị cáo lấy trộm. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 145, ngày 25/7/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, (bút lục số 94).

Về án phí: Bị cáo C và bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Lương Phi C và Dương Phan Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lương Phi C, 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/4/2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Dương Phan Tấn T, 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/4/2023.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị hại Đỗ Văn Th: 01 biển số xe mô tô số 68X1-275.46, đây là biển số của xe mô tô Wave Alpha màu đỏ của ông Th là chủ sở hữu bị các bị cáo lấy trộm. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 145, ngày 25/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo C và bị cáo Tài, mỗi bị cáo phải chịu án phí là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/9/2023). * Nơi nhận:

Cỡ chữ