vanban.org

Bản án 193/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 23/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bảo Quốc V.

Buộc bà ông Hồ Quang Tr và bà Võ Thùy L có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Bảo Quốc V số tiền 233.500.000 đồng (hai trăm ba mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bảo Quốc V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ D, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2023/DS-ST
Ngày 23 – 8 – 2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ D, TỈNH CÀ MAU

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Biên Ải

Bà Phạm Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ D, tỉnh Cà Mau.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ D, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 468/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 261/2023/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bảo Quốc V; Sinh năm 1991; Địa chỉ cư trú: Khu phố 3, thị trấn T M, huyện H T, tỉnh Bình Thuận;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ngô Ngọc Th; Sinh năm 1956; Địa chỉ cư trú: Khóm 2, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; (văn bản ủy quyền ngày 14/7/2023); (có mặt).

- Bị đơn: Ông Hồ Quang Tr; Sinh năm 1971 và bà Võ Thùy L; Sinh năm 1975; Địa chỉ cư trú: Ấp Thuận L B, xã Tân Th, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Ngô Ngọc Th trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết thân thiết, vợ chồng ông Tr và bà L hỏi mượn tiền của ông V để làm ăn, ông V đã cho mượn tiền nhiều lần, lần thứ nhất vào ngày 31/01/2021, có làm biên nhận nợ mượn số tiền 270.000.000 đồng, cùng ngày thì mượn tiếp số tiền 50.000.000 đồng, có làm hai biên nhận nợ, số tiền này có tính lãi suất 10.000.000 đồng/tháng, có trả nhưng không đầy đủ, chỉ trả lãi khoản 4, 5 lần. Đến ngày 01/8/2022, vợ chồng ông Tr làm giấy mượn tiền chốt tổng số nợ là 320.000.000 đồng, kể từ ngày làm biên nhận này ông V không tính lãi suất, khi làm biên nhận chốt nợ thì biên nhận trước đã hủy bỏ và số tiền lãi đã đóng không đặt ra yêu cầu. Theo cam kết các bên, khi ông V cần lấy lại tiền thì sẽ thông báo trước cho ông Tr và bà L 15 ngày, nhưng khi cần lấy lại số tiền thì ông Tr và bà L không thực hiện. Đến ngày 06/5/2023, sau nhiều lần trả thì tổng số tiền ông Tr và bà L đã trả cho ông V là 79.500.000 đồng, còn nợ lại 240.500.000 đồng.

Nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu ông Tr và bà L trả số tiền 240.500.000 đồng cho ông V, không yêu cầu tính lãi suất.

Tại phiên tòa, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn xác định ông Tr và bà L có chuyển khoản trả cho ông V số tiền 7.000.000 đồng, thời gian trả cách nay hai tuần, trả hình thức chuyển khoản. Do đó, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu đối trừ số tiền 7.000.000 đồng đã trả, còn nợ lại 233.500.000 đồng thì yêu cầu ông Tr và bà L trả cho ông V.

* Đối với ông Hồ Quang Tr và bà Võ Thùy L:

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Tr và bà L biết về yêu cầu khởi kiện của ông V nhưng ông Tr và bà L không có ý kiến hay yêu cầu gì và cũng không tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Hồ Quang Tr và bà Võ Thùy L đã được Tòa án triệu tập tham gia xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông V khởi kiện yêu cầu ông Tr và bà L có địa chỉ tại ấp Thuận Lợi B, xã Tân Thuận, huyện Đ D trả lại số tiền 233.500.000 đồng. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tranh chấp hợp đồng dân sự cụ thể hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ D.

Xét nội dung vụ án thấy rằng: Tại giấy mượn tiền ngày 01/8/2022 âm lịch (BL 09) thể hiện nội dung: “… Chúng tôi gồm có: 1) Hồ Quang Tr…… 2) Võ Thùy L … cùng thường trú ấp Thuận Lợi B, xã Tân Thuận, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau. Chúng tôi xác nhận có mượn của ông Nguyễn Bảo Quốc V số tiền 320.000.000 (ba trăm hai mươi triệu đồng) số tiền này ông Nguyễn Bảo Quốc V không tính lãi suất. Khi ông Nguyễn Bảo Quốc V cần tiền thì sẽ thông báo trước cho chúng tôi trước 15 ngày. Chúng tôi sẽ có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Bảo Quốc V số tiền 320.000.000 (Ba trăm hai mươi triệu đồng)….”. Từ nội dung trên cho thấy giữa ông V với ông Tr và bà L có hợp đồng vay tiền với nhau và hợp đồng có lãi suất theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự. Mặt khác, quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng đã thông báo cho ông Tr và bà L biết về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng ông Tr và bà L không tham gia hòa giải, không thể hiện ý kiến phản đối hay ý kiến nào khác nên đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi vay số tiền 320.000.000 đồng do ông V yêu cầu trả tiền nên ông Tr và bà L có trả số tiền 79.500.000 đồng và ông V chỉ yêu cầu khởi kiện số tiền còn lại là 240.500.000 đồng, tại phiên tòa xá định bị đơn đã trả thêm 7.000.000 đồng nên đối trừ vào số tiền nợ là đúng quy định. Do đó, đủ cơ sở xác định hợp đồng vay tiền của ông V với ông Tr và bà L là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi, khi cần lấy lại tiền thì ông V cũng có thông báo trước cho ông Tr và bà L nên có sự việc đã trả số tiền 79.500.000 đồng nêu trên theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự. Đối với lãi suất tiền vay các bên thỏa thuận từ ngày 01/8/2022 đến nay không tính lãi suất, đây là sự tự nguyện các đương sự phù hợp quy định nên được chấp nhận.

Từ những cơ sở như nêu trên khẳng định được việc ông Tr và bà L có nợ ông V số tiền 233.500.000 đồng nên cần buộc trả là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Tr và bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 11.675.000 đồng (233.500.000 đồng x 5%) tương ứng số tiền phải trả cho nguyên đơn;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 90, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bảo Quốc V.

Buộc bà ông Hồ Quang Tr và bà Võ Thùy L có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Bảo Quốc V số tiền 233.500.000 đồng (hai trăm ba mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Ông Hồ Quang Tr và bà Võ Thùy L phải chịu 11.675.000 đồng (mười một triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) (chưa nộp).

2.2. Ông Nguyễn Bảo Quốc V không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ông V số tiền 6.013.000 đồng (sáu triệu không trăm mười ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0014450 ngày 18 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ D.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ