vanban.org

Bản án 193/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường Nguyên V 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Cướp gi t tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 16/6/2022.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, số khung: RLCUG0610FY182439, số máy: G3D4E195347. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn trường nguyên V phạm tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường Nguyên V 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Cướp gi t tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 16/6/2022.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2022/HS-ST
Ngày 29 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thu Vân

Bà Thái Thục Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ s Tòa án nhân dân Qu n 8, Thành phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 175/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022 và Thông báo ngày 16 tháng 12 năm 2022 về việc dời ngày xét xử, đối với bị cáo:

Nguyễn Trường Nguyên V; sinh năm 1997, tại Thành phố H Ch Minh; nơi cư trú: 387/8 B, Phường 8, Qu n 8, Thành phố H Ch Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trường G và bà Nguyễn Thị Mỹ T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 16/12/2019, Tòa án nhân dân Qu n 8, Thành phố H Ch Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc, thời hạn 16 tháng. Chấp hành xong ngày 30/4/2021.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2022 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Chị Trần Thị Mỹ T, sinh năm 1986; nơi cư trú (hộ khẩu thường trú: 319/9 L, Phường 3, Qu n 11, Thành phố H Ch Minh; chỗ : 231C/24 D, Phường 1, Qu n 8, Thành phố H Ch Minh). (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trường Nguyên V là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 16/6/2022, V điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 59G1-366.89 ch Trần Thanh T đi chơi, trên đường đi T rủ V cùng nhau tìm kiếm tài sản để chiếm đoạt và được V đ ng ý. Cả hai đi lòng vòng trên nhiều tuyến đường, khi đến trước nhà số 79 C, Phường 4, Qu n 8, Thành phố H Ch Minh, thì T nhìn thấy chị Trần Thị Mỹ T đang ng i trên xe Honda Vision, trên tay chị T đang cầm điện thoại di động hiệu Vivo Y33S sử dụng. Thấy v y nên T nói V điều khiển xe áp sát ph a bên trái chị T, T dùng tay phải gi t chiếc điện thoại của chị T, r i V tăng ga bỏ chạy.

Bị chiếm đoạt tài sản, chị T đuổi theo và truy hô, khi V điều khiển xe ch T chạy đến trước số 39 C, Phường 4, Qu n 8, thì V va quẹt xe với người đi đường dẫn đến cả hai bị ngã xuống đường. T l p tức đứng d y và ném lại chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được của chị T, r i bỏ chạy thoát. Riêng V bị người dân xung quanh vây bắt giữ cùng v t chứng, giải giao về trụ s Công an Phường 4, Qu n 8 để l p biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 để điều tra, làm rõ.

Tại Kết lu n định giá tài sản số: 253/KL-HĐĐGTS ngày 21/10/2022, Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Qu n 8 kết lu n giá trị của chiếc điện thoại di động hiệu Vivo Y33S là 3.200.000 đ ng. Ngày 20/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 đã ra quyết định kh i tố vụ án, kh i tố bị can và bắt tạm giam đối với Nguyễn Trường Nguyên V về tội “Cướp gi t tài sản”. Quá trình điều tra, V đã khai nh n toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trên.

Ngày 21/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 ra quyết định xử lý v t chứng bằng hình thức trả lại chiếc điện thoại di động hiệu Vivo Y33S cho chị Trần Thị Mỹ T. Do trong quá trình truy đuổi, các đối tượng chiếm đoạt tài sản bị té ngã làm cho điện thoại của chị T bị vỡ màn hình, hư hỏng. Trong giai đoạn điều tra, mẹ ruột bị cáo là bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh đã thay bị cáo V b i thường khắc phục h u quả cho chị T với số tiền 3.000.000 đ ng, đ ng thời chị T không yêu cầu bị cáo V b i thường gì thêm.

Xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter gắn biển số: 59G1-366.89 là phương tiện bị cáo V dùng để phạm tội, qua điều tra xác định xe gắn biển số 59G1-366.89 là giả. Qua giám định, xe có số khung, số máy không thay đổi, được cấp biển số th t là 59S2-414.08, do Nguyễn Trường Nguyên V đứng tên đăng ký.

Tại bản Cáo trạng số 156/CT-VKSQ8 ngày 03/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Thành phố H Ch Minh truy tố bị cáo Nguyễn Trường Nguyên V về tội “Cướp gi t tài sản”, theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Thành phố H Ch Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trường Nguyên V về tội “Cướp gi t tài sản”. Sau khi phân t ch, đánh giá t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý v t chứng, đề nghị xử lý theo quy định pháp lu t. Về trách nhiệm dân sự, bị hại không có yêu cầu b i thường nên không đề c p giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án, xác định: Vào ngày 16/6/2022, tại trước số 79 C, Phường 4, Qu n 8, Thành phố H Ch Minh, bị cáo Nguyễn Trường Nguyên V có hành vi điều khiển xe gắn máy ch Trần Thanh T công khai chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y33S, trị giá 3.200.000 đ ng của chị Trần Thị Mỹ T, r i nhanh chóng tẩu thoát.

Bị cáo dùng xe gắn máy để làm phương tiện phạm tội nên thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, đây là tình tiết định khung hình phạt của tội “Cướp gi t tài sản”.

Điều 171 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Cướp gi t tài sản” như sau:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

…

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền s hữu tài sản của cá nhân được pháp lu t bảo vệ. Do đó, Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Trường Nguyên V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp gi t tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét t nh nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo tr thành người có ch, có ý thức tuân theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Bị cáo có 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc vào năm 2019. Do đó, Hội đ ng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân bị cáo.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cướp gi t tài sản” là có cơ s , đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là là có phần nghiêm khắc. B i lẽ, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại di động đã được thu h i trả bị hại, bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình thay bị cáo b i thường tiền sửa chữa điện thoại cho bị hại. Do đó, Hội đ ng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nh p không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nh n lại tài sản, được b i thường khắc phục h u quả và không yêu cầu bị cáo b i thường gì thêm nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Về xử lý v t chứng: Xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter gắn biển số: 59G1-366.89 (biển số giả) là tài sản thuộc s hữu của bị cáo V, xét bị cáo dùng xe làm phương tiện phạm tội nên Hội đ ng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với chiếc xe trên.

Biển số 59G1-366.89 gắn trên xe gắn máy của bị cáo là biển số giả, xét không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

Đối tượng Trần Thanh T là người bị cáo V khai đã rủ rê bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội và cũng là người trực tiếp gi t tài sản của bị hại. Tuy nhiên, do chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo V, đ ng thời qua xác minh hiện T đã bỏ đi khỏi địa phương không rõ nơi cư trú hiện tại nên Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để kh i tố bị can đối với T. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm và tách vụ án hình sự đối với hành vi của T nên Hội đ ng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Về án ph hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường Nguyên V 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Cướp gi t tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 16/6/2022.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu đỏ

- đen, số khung: RLCUG0610FY182439, số máy: G3D4E195347.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển số xe 59G1-366.89.

(Theo Biên bản giao, nh n v t chứng ngày 27/10/2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự Qu n 8).

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Trường Nguyên V nộp 200.000 đ ng án ph hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, t nh từ ngày nh n được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.

Cỡ chữ