- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản Lê Hồng T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng T phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số: 193/2022/HS-ST Ngày: 09/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Toàn
2. Bà Nguyễn Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 178/2022/HSST ngày 22/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2022/QĐXXST-HS ngày 26/8/2022 đối với bị cáo:
Lê Hồng T, sinh năm 1985; Tại Hà Nội; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: không xác định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H và bà Đặng Thị C; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 995/HSST ngày 14/11/2003, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đã xóa án); Tại bản án hình sự sơ thẩm số 114/HSST ngày 28/4/2011, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xử phạt 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án); Tại bản án hình sự sơ thẩm số 262/HSST ngày 14/11/2013, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án); Tại bản án hình sự sơ thẩm số 205/HSST ngày 20/7/2016, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án); Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 05/6/2022; Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1-Công an Thành phố Hà Nội; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Cháu Nguyễn Trần Phương M, sinh 24/01/2007; Địa chỉ: Phường Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953; Địa chỉ: Lạc Long Quân, quận Cầu Giấy, Hà Nội (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10h45’ ngày 05/6/2022, Lê Hồng T điều khiển xe máy Honda Vision màu đen, BKS 29C1 – 886.72 một mình đi vào trong ngõ 89 Lạc Long Quân, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội với mục đích trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khi T điều khiển xe máy đi đến Lạc Long Quân thì phát hiện thấy cháu Nguyễn Trần Phương M đang điều khiển xe đạp điện đi phía trước, trên người có đeo 01 chiếc balo màu đen, túi bên sườn trái balo để 01 điện thoại iphone X màu bạc. T đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại của cháu M. Lúc này, do đường đông người nên cháu M dừng xe đạp lại, T điều khiển xe máy đến sát gần chỗ cháu Minh rồi lén lút dùng tay phải lấy trộm chiếc điện thoại của cháu M. Sau khi lấy được điện thoại, T chuyển điện thoại từ tay phải sang tay trái. Sau đó, T cất điện thoại vào hốc phía trước dưới tay lái bên trái của xe máy đồng thời quay đầu xe theo hướng ngược lại và phóng xe bỏ chạy. Cháu M cảm giác thấy balo bị ai động vào nên quay mặt sang nhìn và phát hiện T đang cầm điện thoại bên tay trái giống với điện thoại của cháu M, cháu M nhìn xuống sườn balo thấy chiếc điện thoại bị mất nên đã điều khiển xe đạp điện đuổi theo T, vừa đuổi vừa hô hoán. Lúc này, anh Bùi Trung T (SN: 1981, HKTT: Tây Hồ, Hà Nội đang điều khiển xe máy đi trên đường nghe thấy tiếng hô hoán và thấy T đang điều khiển xe máy bỏ chạy, anh T đuổi theo T cùng với cháu M. Khi T điều khiển xe máy đi đến Thụy Khê, phường Thụy Khê, Tây Hồ, Hà Nội thì bị anh Bùi Trung T bắt giữ, thu giữ của T 01 điện thoại di động iphone màu trắng bạc có vỏ ốp màu tím nhạt trên có hình con bướm là vật chứng và bàn giao cho Công an phường Thụy Khê, Tây Hồ. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của Tuấn 01 xe máy Honda Vision, màu đen, BKS: xxC1 – 886.72, 01 khóa xe máy loại Smart, 01 áo dài tay màu xanh, 01 túi đeo chéo có chữ Adidas, 01 điện thoại Redmi màu xám, 01 đăng ký xe mô tô mang tên Lê Công Minh, 01 ngang màu nâu, 159.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 196 ngày 6/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Cầu Giấy, kết luận: 01 điện thoại iphone X 64G màu trắng bạc đã qua sử dụng từ 2021 giá trị 4.950.000 đồng; 01 ốp điện thoại màu tím nhạt đã qua sử dụng từ 2021 không đủ căn cứ định giá. Tổng giá trị tài sản Lê Hồng Tuấn chiếm đoạt là 4.950.000 đồng (Bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại cơ quan điều tra, Lê Hồng T đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.
Về tang vật vụ án: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 110 ngày 02/8/2022 trao trả 01 điện thoại di động iphone màu trắng bạc có vỏ ốp màu tím nhạt trên có hình con bướm cho cháu Nguyễn Trần Phương M là chủ sở hữu.
Đối với chiếc xe máy Honda Vision, màu đen, BKS: 29C1 – 886.72 mà Lê Hồng T sử dụng đi trộm cắp tài sản, T khai đây là xe máy của anh Lê Hồng H (SN: 1973, HKTT: Chương Dương, Hoàn Kiếm, Hà Nội) cho Tuấn mượn để đi xe ôm. Anh Lê Hồng H khai chiếc xe máy trên là của con trai anh H là anh Lê Công M để lại ở nhà để anh Hà sử dụng, việc Tuấn sử dụng xe máy đi trộm cắp anh H không biết.Xác minh đăng ký xe mang tên Lê Công M (Trú tại: Chương Dương, Hoàn Kiếm, Hà Nội). Anh M khai năm 2020, anh M mua xe máy và đăng ký xe có BKS: 29C1 – 886.72. Cuối tháng 5/2022, anh M đi công tác tại Đà Nẵng và để xe máy ở nhà cho bố đẻ anh M là ông H quản lý và sử dụng. Đến ngày 5/6/2022, anh M được ông Hà cho biết đã cho em trai là Lê Hồng T mượn xe máy, hiện Tuấn bị Công an quận Cầu Giấy bắt giữ về hành vi Trộm cắp tài sản và bị tạm giữ xe máy. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 52 ngày 2/8/2022 trao trả lại 01 xe máy Honda Vision, màu đen, BKS: xxC1 – 886.72; 01 khóa xe máy loại smart và 01 đăng ký xe moto mang tên Lê Công M cho anh Lê Công M là chủ sở hữu.
Đối với 01 áo dài tay màu xanh, 01 túi đeo chéo có chữ Adidas, 01 điện thoại di động Redmi màu xám, 01 ví ngang màu nâu, 159.000 đồng, quá trình xác minh xác định không liên quan đến vụ án.
Về dân sự: cháu Nguyễn Trần Phương M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 172/CT- VKS ngày 17/8/2022, Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố Lê Hồng T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã nêu; sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi cũng như nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Hồng T từ 10 tháng đến 14 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Miễn phạt tiền đối với bị cáo. Trả lại cho bị cáo: với 01 áo dài tay màu xanh, 01 túi đeo chéo có chữ Adidas, 01 điện thoại di động Redmi màu xám, 01 ví ngang màu nâu, 159.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với lời khai người làm chứng, kết luận định giá, vật chứng thu giữ được và phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ, đầy đủ cơ sở kết luận:
Ngày 05/6/2022, tại Lạc Long Quân, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội, Lê Hồng T lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động iphone X 64Gb màu trắng bạc có vỏ ốp màu tím nhạt của cháu Nguyễn Trần Phương M đang để bên hông balo đeo sau lưng. Sau đó, cháu M mới phát hiện ra bị mất điện thoại đồng thời nhìn thấy T đang cầm chiếc điện thoại giống chiếc điện thoại bị mất nên đuổi theo và tri hô nhờ người đi đường giúp đỡ. Tuấn điều khiển xe máy bỏ chạy bị người đi đường là anh Bùi Trung T đuổi theo bắt giữ, bàn giao cho Công an phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ. Chiếc điện thoại đã được thu hồi và trả cho cháu Nguyễn Trần Phương M. Giá trị chiếc điện thoại T trộm cắp là 4.950.000 đồng (Bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Hành vi của Lê Hồng T đã phạm vào tội "trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Lê Hồng T về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì muốn có tiền tiêu xài cho bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo, liều lĩnh. Về nhân thân: Bị cáo có 04 tiền án (01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản) mặc dù cả 04 tiền án đều đã được xóa án nhưng bị cáo không lấy những lần vi phạm trước đã bị chấp hành hình phạt tù làm bài học mà vẫn lao vào con đường phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật, cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ hình phạt và hình phạt bổ sung: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét việc bị cáo đã khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc điện thoại Iphone X 64Gb màu trắng bạc có vỏ ốp màu tím nhạt mà T đã trộm cắp của cháu Nguyễn Trần Phương M đã được thu hồi và trả lại cho cháu M. Cháu M không có yêu cầu gì về dân sự.
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo các tài sản không có liên quan đến hành vi phạm tội gồm: 01 áo dài tay màu xanh, 01 túi đeo chéo có chữ Adidas, 01 điện thoại di động Redmi màu xám, 01 ví ngang màu nâu, 159.000 đồng.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, đại diện của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng T phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Điều 106, 136, 331, 329, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2022.
Trả lại cho bị cáo: 01 áo dài tay màu xanh, 01 túi đeo chéo có chữ Adidas, 01 điện thoại di động kiểu dáng Redmi màu xám, 01 ví ngang màu nâu (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 252/GN/THA-CA ngày 17/8/2022 giữa Công an quận Cầu Giấy và Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy).
Trả lại cho bị cáo 159.000 đồng theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 17/8/2022 (Nộp vào tài khoản số 3949.0.1049179 của Chi Cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy tại Kho bạc nhà nước Cầu Giấy).
Bị cáo Lê Hồng T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Lê Hồng T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại cháu Nguyễn Trần Phương M và đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: 1. VKSND quận Cầu Giấy; 2. TAND Tp Hà Nội; 3. VKSND Tp Hà Nội; 4. Bị cáo;Bị hại; Đại diện của bị hại 5. Công an quận Cầu Giấy; 6. Chi cục THADS quận Cầu Giấy; 7. Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Tuấn Anh |