vanban.org

Bản án 193/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 07/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Tuấn L phải bồi thường cho anh Giáp Văn H số tiền 12.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian c…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Tuấn L tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Tuấn L phải bồi thường cho anh Giáp Văn H số tiền 12.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 193/2021/HS-ST
Ngày 09 -12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Bấm

Bà Lê Bích Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 181/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Hoàng Tuấn L; sinh ngày 05 tháng 02 năm 2001, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Đường C, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trung Đ và bà Đặng Lan P; bị cáo có vợ là Trần Thị Linh C và có 01 con; tiền án: Tại Bản án số 44/2021/HS-ST ngày 31/8/2021 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 216/2015/HS-ST ngày 23/12/2015, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản (đã được xóa án tích); bị bắt tạm giữ ngày 24/7/2021; tạm giam từ ngày 28/7/2021; có mặt.

- Bị hại:

+ Anh Giáp Văn H; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường D, thành phố Bắc Giang; vắng mặt.

+ Anh Hồ P; nơi cư trú: Đường T, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng.

Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Đình K; vắng mặt;

+ Anh Nguyễn Quang M; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Hoàng Tuấn L đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Ngày 04/5/2021, L thấy anh Nguyễn Đình K; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang, đăng bài bán điện thoại Iphone 11 màu xanh trên trang “Chợ Tốt”. L sử dụng tài khoản Zalo “Minh Son Ng” nhắn tin cho anh K hỏi mua điện thoại và bảo anh K mang điện thoại đến cửa hàng mà L quen để kiểm tra rồi mới trả tiền. Đồng thời, L dùng số điện thoại 0904347990 liên hệ với anh Giáp Văn H là chủ cửa hàng điện thoại H Trang Mobile; tại địa chỉ: Số 129 đường Hùng Vương, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang để rao bán chiếc điện thoại trên. L và anh H thỏa thuận giá là 12.000.000 đồng và L sẽ cho người mang điện thoại đến để kiểm tra, sau đó anh H sẽ chuyển tiền vào tài khoản của L. L nhắn tin bảo anh K mang điện thoại đến cửa hàng của anh H và dặn anh K cứ để anh H kiểm tra, rồi để L nói chuyện với anh H. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, anh K mang điện thoại đến cửa hàng anh H. Sau khi kiểm tra xong, anh H nhắn tin cho L đồng ý mua điện thoại với giá 12.000.000 đồng và nhờ anh Nguyễn Văn D chuyển số tiền 12.000.000 đồng đến Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam số tài khoản 02001012703453 mang tên Vũ Anh Tuấn mà L đã cho nhưng không được. Anh H đã nhắn tin bảo L gửi lại số tài khoản, L đã nhắn cho anh H số tài khoản tại Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam số tài khoản 19031704053014 mang tên Đặng Lan P. Sau khi nhận được số tiền 12.000.000 đồng, L đã chặn cuộc gọi, tin nhắn của anh H và anh K. Cùng ngày, anh H có đơn trình báo Công an thành phố Bắc Giang.

Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 12/6/2021, L thấy anh Nguyễn Quang M; nơi cư trú: Đường H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng đăng bán 01 điện thoại iphone 11 màu xanh với giá 11.000.000 đồng. L dùng Iphone 12 ProMax của L, lắp sim điện thoại 0795304423 gọi đến số điện thoại của anh M tự xưng là Hiếu, và dùng tài khoản zalo “Ông Trùm” để kết bạn với anh M. Anh M có gửi hình ảnh và thông tin máy cho L qua tài khoản zalo trên. L yêu cầu anh Huy qua cửa hàng điện thoại tại số 74 đường Lạch Tray, phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để kiểm tra điện thoại, bảo là bạn anh M, nếu máy không có vấn đề gì thì L sẽ chuyển khoản cho anh M. Đồng thời, L dùng số điện thoại trên gọi điện đến cửa hàng điện thoại Mạnh Cường và trao đổi với anh Hồ P, tự xưng là Hiếu. L bảo anh P kết bạn zalo với tài khoản “Ông Trùm” của L và gửi hình máy điện thoại của anh M. Anh P yêu cầu mang máy điện thoại đến thì mới báo giá nên L đã bảo anh M cầm điện thoại đến. Khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, anh M cầm điện thoại đến cửa hàng tại số 74 đường Lạch Tray, phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng và bảo mình là bạn anh M bảo mang điện thoại để kiểm tra. Anh P nhận điện thoại. Sau khi kiểm tra điện thoại, anh P trao đổi qua số tài khoản zalo với L và báo giá là 6.200.000 đồng. L đồng ý và anh P đã chuyển khoản 6.200.000 đồng vào số tài khoản Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) 02101012962516, chủ tài khoản Nguyen Trong Hieu. Khi nhận được tiền thì L không liên lạc với anh M và anh P nữa. Sau đó, L chuyển tiền ở tài khoản ngân hàng trên vào tài khoản Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) 19031704053014 mang tên Đặng Lan Phương. Ngay khi phát hiện bị L lừa đảo chiếm đoạt tài sản, anh P và anh M đã lên Công an phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để trình báo sự việc trên.

Ngày 19/7/2021, L mang điện thoại Iphone 12 ProMax màu vàng bán cho anh Nguyễn Việt A là chủ cửa hàng điện thoại Việt Anh Apple tại số đường H, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng với giá 23.800.000 đồng. Ngày 24/7/2021, anh Việt A đã giao nộp chiếc điện thoại này cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Ngày 24/7/2021, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Tuấn L, thu giữ của L 01 thẻ Ngân hàng Techcombank, mang tên Đặng Lan Phương, số thẻ là 4221 5086 6046 9849.

- Về vật chứng của vụ án: 01 điện thoại Apple Iphone 11 màu xanh bạc hà đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Quang M; 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Đình K, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Huy và anh K; 01 thẻ Ngân hàng Techcombank, mang tên Đặng Lan Phương, số thẻ là 4221 5086 6046 9849; 01 điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 12 ProMax màu vàng, dung lượng 128GB, số Imei2 là 354741669829054.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Tuấn L và gia đình đã bồi thường cho anh Hồ P số tiền 6.200.000 và anh Nguyễn Việt A số tiền 23.800.000 đồng. Anh P và anh Việt A không yêu cầu L bồi thường gì thêm. Anh Giáp Văn H yêu cầu L phải bồi thường số tiền là 12.000.000 đồng.

Kết luận giám định số 310/KLGĐ ngày 31/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có số IMEI SIM thực 354741669552136, IMEI SIM kỹ thuật số 354741669829054 đã qua sử dụng (điện thoại của L) kết luận: Không tìm thấy dữ liệu được lưu trong máy (điện thoại được cài đặt lại về nhà sát xuất vào ngày 23/7/2021); dãy số 354741669829054 là số IMEI SIM kỹ thuật số của điện thoại gửi giám định.

Tại Bản Cáo trạng số 179/CT-VKS ngày 03/11/2021 Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Hoàng Tuấn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Hoàng Tuấn L khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện việc Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Giáp Văn H số tiền 12.000.000 đồng và của anh Hồ Phúc 6.200.000 đồng.

Bị hại anh Giáp Văn H, anh Hồ Phúc đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, đã được công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Anh Hồ P đã được nhận lại số tiền 6.200.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Anh Giáp Văn H yêu cầu bị cáo Hoàng Tuấn L phải bồi thường số tiền 12.000.000 đồng.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Đình K, anh Nguyễn Quang M vắng mặt tại phiên tòa, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, đã được công bố lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Tuấn L với mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Bản án số 44/2021/HS-ST ngày 31/8/2021 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng bị cáo chưa thi hành buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Anh Hồ Phúc đã được nhận lại số tiền 6.200.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Buộc bị cáo Hoàng Tuấn L phải bồi thường cho anh Giáp Văn H với số tiền là 12.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 12 ProMax màu vàng, dung lượng 128GB, số Imei2 là 354741669829054; trả lại cho bà Đặng Lan Phương 01 thẻ Ngân hàng Techcombank, mang tên Đặng Lan Phương, số thẻ là 4221 5086 6046 9849.

Ngoài ra, L còn có hành vi chiếm đoạt 15.000.000 đồng vào ngày 05/5/2021, tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền có văn bản đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để nhập vụ án. Nhưng đến nay, Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng chưa nhận được văn bản, nên không có cơ sở nhập vụ án hình sự để xử lý.

Đối với Nguyễn Trọng H và Vũ Anh T là chủ tài khoản L dùng để giao dịch lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hiện H và T vắng mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền tách ra, làm rõ xử lý sau. Đối với việc chị Đặng Lan Phương là người cho Hoàng Tuấn L mượn, L không nói và chị Phương không biết L dùng tài khoản này để để giao dịch lừa đảo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền không có căn cứ xử lý; về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

+ Về sự vắng mặt của bị hạị, người làm chứng:

[2] Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã triệu tập hợp lệ nhưng bị hại anh Giáp Văn H, anh Hồ P; người làm chứng anh Nguyễn Đình K, anh Nguyễn Quang M vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại anh Giáp Văn H, anh Hồ Phúc; người làm chứng anh Nguyễn Đình K, anh Nguyễn Quang M.

- Về tội danh:

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/5/2021 và 12/6/2021, bị cáo Hoàng Tuấn L bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt số tiền 12.000.000 đồng của anh Giáp Văn H và 6.200.000 đồng của anh Hồ P (trị giá tài sản chiếm đoạt là 18.200.000 đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo Hoàng Tuấn L đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong cộng đồng dân cư nên cần xử lý nghiêm.

- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Về nhân thân bị cáo có 01 tiền án năm 2015, tuy được xóa án tích nhưng phải thấy bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội, do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại một phần cho người bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về tổng hợp hình phạt: Ngoài hành vi trên ra thì, ngày 31/8/2021, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo Hoàng Tuấn L 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 44/2021/HS- ST. Nay, bị cáo L tiếp tục bị xét xử về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đến ngày xét xử 09/12/2021 thì Bản án số 44/2021/HS-ST ngày 31/8/2021đã có hiệu lực pháp luật. Do đó cần tổng hợp hình phạt của Bản án số 44/2021/HS- ST ngày 31/8/2021, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả hai bản án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Ngoài hình phạt chính, bị cáo Hoàng Tuấn L còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo không có công việc, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Ngoài ra, ngày 05/5/2021 Hoàng Tuấn L còn có hành vi chiếm đoạt 15.000.000 đồng, tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã có văn bản đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để nhập vụ án hình sự. Tuy nhiên đến nay Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng chưa có văn bản nên không có cơ sở nhập vụ án hình sự để xử lý.

- Về việc xử lý vật chứng:

[10] Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 12 ProMax màu vàng, dung lượng 128GB, số Imei2 là 354741669829054; trả lại cho bà Đặng Lan Phương 01 thẻ Ngân hàng Techcombank, mang tên Đặng Lan Phương, số thẻ là 4221 5086 6046 9849.

- Về trách nhiệm dân sự:

[11] Anh Hồ Phúc đã được nhận lại số tiền 6.200.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

[12] Buộc bị cáo Hoàng Tuấn L phải bồi thường cho anh Giáp Văn H với số tiền là 12.000.000 đồng.

[13] Trong vụ án này, còn có Nguyễn Trọng Hiếu và Vũ Anh Tuấn là chủ tài khoản L dùng để giao dịch lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hiện Hiếu và Tuấn vắng mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền tách ra, làm rõ xử lý sau.

[14] Đối với chị Đặng Lan Phương là người cho Hoàng Tuấn L mượn, L không nói và chị Phương không biết L dùng tài khoản này để để giao dịch lừa đảo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền không có căn cứ xử lý.

- Về án phí:

[15] Bị cáo Hoàng Tuấn L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[16] Bị cáo Hoàng Tuấn L, người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ 1 Điều 174; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Hoàng Tuấn L 21(hai mươi mốt) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù của Bản án số 44/2021/HS-ST ngày 31/8/2021 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Trừ cho bị cáo 06 ngày tạm giữ từ ngày 04 tháng 3 năm 2021 đến ngày 10 tháng 3 năm 20121 theo Quyết định tạm giữ số 10/QĐTG ngày 05 tháng 3 năm 2021 và Quyết định gia hạn tạm giữ số 07/QĐTG ngày 07 tháng 3 năm 2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An, thành phố Hải Phòng). Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 38 (ba mươi tám) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/7/2021.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Tuấn L phải bồi thường cho anh Giáp Văn H số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 12 ProMax màu vàng, dung lượng 128GB, số Imei2 là 354741669829054 của Hoàng Tuấn L là công cụ phạm tội.

+ Trả lại cho bà Đặng Lan Phương 01 thẻ ngân hàng Techcombank, mang tên Đặng Lan Phương, số thẻ là 4221 5086 6046 9849.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Hoàng Tuấn L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Hoàng Tuấn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ