vanban.org

Bản án 193/2020/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội Tuyên án 10/09/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị H., chị Lê Thị H. được ly hôn với anh Đặng Quang V..

Về con chung: Giao con trai Đặng Ngọc D. sinh ngày 24 tháng 01 năm 2010 cho chị Lê Thị H. được trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đặng Quang V. cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Đặng Quang V. được quyền thăm nom, chăm sóc con chun… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị H., chị Lê Thị H. được ly hôn với anh Đặng Quang V..
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂY HỒ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
__________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:193/2020/QĐST-HNGĐ
Ngày: 10.9.2020.
V/v tranh chấp xin ly hôn,
nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Hùng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lịch

Ông Nguyễn Văn Tỉnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Ngọc Tiến - Cán bộ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ tham gia phiên toà:

Bà Dương Minh Thu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 09 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 106/2020/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 6 năm 2020, về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2020/QĐXX-ST ngày 30 tháng 7 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2020/QĐXX-ST ngày 21 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H., sinh năm 1972 (có mặt).

HKTT: Số 247 B13, Phố A., phường Y., quận Tây Hồ, Hà Nội.

Nơi ở: Số 24, ngách 35, ngõ 76 Phố A., phường Y., quận Tây Hồ, Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Đặng Quang V., sinh năm 1963 (vắng mặt).

HKTT + nơi cư trú cuối cùng: Số 247 B13, Phố A., phường Y., quận Tây Hồ, Hà Nội.

Tòa án nhân dân Quận Tây Hồ tuyên bố mất tích tại Quyết định số 05/2019/QĐST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2019.

Người làm chứng: Anh Đặng Văn T., sinh năm 1959 (là anh trai của anh Đặng Quang V. (vắng mặt).

HKTT: Tổ 6 phường L., quận L., thành phố Hà nội.

Nơi ở: Số 3 ngách 38/19 phố T., quận L., thành phố Hà nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và tại bản tự khai, hòa giải và trong quá trình xét xử nguyên đơn – chị Lê Thị H. trình bày:

Về tình cảm: Tôi và anh Đặng Quang V. xây dựng gia đình với nhau năm 2007, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường Y., Quận Tây Hồ, Hà nội ngày 18 tháng 09 năm 2007 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu.

Sau khi kết hôn, thời thời gian đầu chúng tôi sống hòa thuận một thời gian sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và lối sống, anh Vinh không quan tâm chăm sóc vợ con. Do mâu thuẫn căng thẳng nên từ năm 2014, sau khi nhà chồng tôi bán nhà ở số 247 B13, phố Phố A., phường Y., quận Tây Hồ, Hà Nội thì anh V. cũng bỏ đi luôn từ đấy. Đến nay, tôi không biết anh V. ở đâu. Tôi đã làm đơn ra tòa án nhân dân quận Tây Hồ tuyên bố anh Đặng Quang V. mất tích, kể từ khi tòa án tuyên bố anh Đặng Quang V. mất tích cho đến nay tôi cũng không có tin tức gì của anh V..

Đến nay, tôi xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn và có nguyện vọng xin được ly hôn với anh V..

- Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung.

Con trai: Đặng Ngọc D. – sinh ngày 24 tháng 01 năm 2010.

Hiện nay cháu đang ở cùng với tôi. Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu, tôi không yêu cầu anh V. cấp dưỡng tiền nuôi con.

Thu nhập hiện nay của tôi là 6.000.000 đồng/ tháng.

- Về tài sản chung, nhà ở: Chúng tôi không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về số nợ: Chúng tôi không nợ ai và cho ai vay nợ.

Bị đơn anh Đặng Quang V. bị tòa án nhân dân quận tây hồ tuyên bố mất tích, không có ý kiến trình bày sau khi tòa án đã tiến hành niên yết các thủ tục tố tụng nhưng vẫn không có mặt.

Người làm chứng anh Đặng Văn T. trình bày: Em Đặng Quang V. sinh năm 1963, có hộ khẩu thường trú tại 247B13 phố Phố A., phường Y., quận Tây Hồ có vợ là chị Lê Thị H., trước đây gia đình ở cùng với gia đình em Đặng Quang V. tại địa chỉ trên nhưng đến năm 2013, sau khi gia đình bán nhà của bố mẹ thì anh em chúng tôi mỗi người một nơi và đến nay không có tin tức gì của anh Đặng Quang V., hiện nay không biết anh Đặng Quang V. ở đâu.

Về con chung: hai anh chị có 01 con trai là Đặng Ngọc D. – sinh ngày 24 tháng 01 năm 2010, hiện nay đang ở cùng với mẹ.

Về tài sản chung và nhà ở: Không có.

Tại phiên tòa:

Chị Lê Thị H. vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với anh Đặng Quang V., chị Lê Thị H. có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con Đặng Ngọc D. - sinh ngày 24 tháng 01 năm 2010 và không yêu cầu anh Đặng Quang V. cấp dưỡng tiền nuôi con vì anh Đặng Quang V. mất tích.

Về tài sản chung, nhà ở, công nợ không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Anh Đặng Quang V. bị tuyên bố mất tích, vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự là nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án là theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã bị tòa án tuyên bố mất tích, tòa án đã tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không có mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt là theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ theo các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị H.; Về con chung: Giao con trai Đặng Ngọc D., sinh ngày 24 tháng 01 năm 2010 cho chị Lê Thị H. được trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đặng Quang V. cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Về tài sản, nhà ở chung, khoản nợ chung: Hai bên đương sự không có nên không xét.

Về án phí: Chị Lê Thị H. phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị H. khởi kiện xin ly hôn với anh Đặng Quang V. tại Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, tại thời điểm chị Lê Thị H. làm đơn khởi kiện với anh Đặng Quang V. thì anh Đặng Quang V. có hộ khẩu và nơi cư trú cuối cùng tại ở tại số 247 B13, phố Phố A., phường Y., quận Tây Hồ, Thành phố Hà nội. Chị Lê Thị H. khởi kiện xin ly hôn tại tòa án nhân dân Quận Tây Hồ nên Tòa án nhân dân Quận Tây Hồ giải quyết là theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Đặng Quang V. bị Tòa án nhân dân Quận Tây Hồ tuyên bố mất tích tại Quyết định số 05/2019/QĐST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2019, đã được tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng không có mặt trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa nên tòa án xét xử vắng mặt anh Đặng Quang V. là theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tình cảm: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện chị Lê Thị H. và anh Đặng Quang V. xây dựng gia đình với nhau năm 2007, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường Y., Quận Tây Hồ, Hà Nội ngày 18 tháng 09 năm 2007 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu - đây là hôn nhân hợp pháp.

Vợ chồng anh chị sống hòa thuận một thời gian sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và lối sống, anh V. không quan tâm chăm sóc vợ con. Do mâu thuẫn căng thẳng nên từ năm 2014, sau khi gia đình bán nhà ở số 247 B13, phố Phố A., phường Y., quận Tây Hồ, Hà Nội thì anh V. cũng bỏ đi luôn từ đấy đến nay, hiện tại cả chị Hương và gia đình anh V. không biết anh V. hiện đang sinh sống ở đâu. Như vậy, hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình”. Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị H. là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Hai đương sự có con chung là con trai Đặng Ngọc D. – sinh ngày 24 tháng 01 năm 2010 kể từ khi anh Đặng Quang V. bỏ đi cho đến nay cháu đang ở cùng với chị Lê Thị H.. Ly hôn, chị Lê Thị H. có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Duy, không yêu cầu anh Đặng Quang V. cấp dưỡng tiền nuôi con. Do anh Đặng Quang V. hiện bị Tòa án tuyên bố mất tích nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị H. được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đặng Quang V. cho đến khi có sự thay đổi khác.

Về tài sản, nhà ở chung, khoản nợ chung: Hai bên đương sự không có nên không xét.

Về án phí ly hôn: Chị Lê Thị H. phải nộp cả 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39; ĐIều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5; điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị H., chị Lê Thị H. được ly hôn với anh Đặng Quang V..

2. Về con chung: Giao con trai Đặng Ngọc D. sinh ngày 24 tháng 01 năm 2010 cho chị Lê Thị H. được trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đặng Quang V. cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Anh Đặng Quang V. được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

3. Về tài sản, nhà ở chung, khoản nợ chung: Hai bên đương sự không có nên không xét.

4. Về án phí ly hôn: Chị Lê Thị H. phải nộp cả 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Lê Thị H. đã nộp xong 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 3986 ngày 01 tháng 6 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ.

Án xử công khai sơ thẩm chị Lê Thị H. (có mặt) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đặng Quang V. (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ