- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho tài sản vô hiệu"
- Tòa quyết gì? ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H;
- Căn cứ chính? Điều 36 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP Về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng t…; Luật Đất đai; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 193/2019/DS-PT Ngày: 17-10-2019 V/v: “ uyên bố tài sản vô hiệu”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự
Các Thẩm phán:
Ông
Ông
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị T
- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông
- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 209/2019/TLPT-DS ngày 30 tháng 7 năm 2019 về “
uyên bố
tài sản vô hiệu”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 10/2019/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1005/2019/QĐ-PT ngày 26 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, địa chỉ: C5 khu phố 2, phường B1, thành phố B2, tỉnh Đồng Nai.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H, cùng địa chỉ: Tổ dân phố 8, thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình.
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị L; địa chỉ: Tổ dân phố 8, thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình.
- Ông Nguyễn Văn C; địa chỉ: 25/3 Đường số 3, phường B, Quận Y, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền
:
1 thành phố Đ,
(
13/11/2018)
- Bà Nguyễn Thị M, địa chỉ: Đội 1, thôn Đ1, xã L2, huyện L1, tỉnh Quảng Bình.
- Bà Nguyễn Thị H2, địa chỉ: Tổ dân phố Th, thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình.
- Bà Nguyễn Thị H3, địa chỉ: 79 đường H4, Phường Y1, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Ông Lê Tiến S1 - Nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình.
- Ông Lê Văn P - Công chức Tư pháp Ủy ban nhân dân thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:
Bố ông là Nguyễn Văn K (sinh năm 1929) và mẹ ông là Hoàng Thị L (sinh năm 1929) có 06 người con gồm: Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị H3, Nguyền Thị M. Trong quá trình sinh sống, bố mẹ ông tạo lập được một khối tài sản chung gồm: 01 ngôi nhà cấp 4 lợp ngói, 01 nhà ngang 01 trệt, 01 lầu gắn liền vói diện tích đất 446 m2 đã được Uỷ ban nhân dân huyện L1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số: B987888 ngày 06/10/1992, thửa đất số 617, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: Tổ dân phố 8, thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình mang tên bố (Nguyễn Văn K). Do bị bệnh hiếm nghèo nên bố ông đã chết ngày 16/6/2017, trước lúc chết bố không để lại di chúc.
Sau khi bố chết, vợ chồng ông Nguyễn Văn S bà Nguyễn Thị H là người quản lý, sử dụng di sản của bố ông để lại, ông S, bà H lấy lý do đã được bố, mẹ tặng cho quyền sử dụng nên đã nhiều lần gây khó khăn, trở ngại cho mẹ ông cũng như các anh, chị, em của ông trong việc thắp hương, cúng giỗ bố cũng như tổ tiên, ông bà, thậm chí còn gây sự, xua đuổi mẹ và các anh, chị, em ra khỏi nhà.
Khi sự việc xảy ra thì ông có hỏi mẹ (bà Hoàng Thị L) và mẹ cho biết là bố, mẹ chưa hề tặng cho ai đất cả. Tuy nhiên mẹ ông kể rằng, có một lần vợ chồng ông S, bà H có mang về một tờ giấy và bảo mẹ ký vào tờ giấy đó đ đề nghị Nhà nước cấp đổi lại GCNQSDĐ mang tên bố, mẹ vì thẻ đỏ hiện tại cấp quá lâu nên đã bị cũ, nát. Do tuổi cao, mắt kém và tin tưởng vào con nên khi ông S đưa tờ giấy thì mẹ ông không đọc và đã ký vào một tờ giấy duy nhất.
Về bố (ông Nguyễn Văn K), sau một thời gian lâm bệnh nặng được điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện L1, bố ông bị hôn mê sâu nên đã được Bệnh viện huyện L1 chuyển gấp vào Bệnh viện TW Huế ngày 10/3/2017, đến ngày 16/6/2017 thì bố ông qua đời. Do đó, bố ông không thể có mặt trước Chủ tịch UBND thị trấn K1 để ký vào h
quyền sử dụng đất. Lời chứng của ông Lê Tiến S1 - Chủ tịch UBND thị trấn K1 vào h
: “Tại thời điểm chứng thực, các bên tham gia
giao dịch minh mẫn, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; tự nguyện thỏa thuận giao kết và đã ký/điểm chỉ vào
này trước mặt tôi” là hoàn toàn không đúng sự thật. Vì vậy, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình:
+ Tuyên h
quyền sử dụng đất ngày 10/3/2017 giữa ông Nguyễn Văn K, bà Hoàng Thị L với ông Nguvễn Văn S, bà Nguyễn Thị H là vô hiệu vì trái pháp ỉuật.
+ Tuyên hủy phần ghi nhận vào ngày 22/3/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai huyện L1 ở trang “Những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận” của GNCQSDĐ do UBND huyện L1 cấp cho ông Nguyễn Văn K ngày 06/10/1992, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số: 11085/QSDĐ/156QĐ/UB-LT, thửa đất số 617, tờ bản đồ số ó ở địa chỉ Tổ dân phố 8, thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình biến động sang cho ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị H bằng
quyền sử dụng đất trái pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, do biết được Uỷ ban nhân dân huyện L1 đã cấp đổi lại GCNQSDĐ mang tên ông S, bà H nên ngày 01/4/2019, ông Nguyễn Văn B có đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khỏi kiện với nội dung: yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CI 966100, thửa đất số 21, tờ bản đồ số 51, diện tích 502 m2, địa ch : T dân phố Th, thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng B nh do Ủy ban nhân dân huyện L1 cấp cho ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị H.
- Tại bản trình bày ý kiến ngày 03/01/2019 và tại phiên hoà giải ngày 18/01/2019, bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:
Vợ chồng ông sống chung trong nhà với bố, mẹ (ông K, bà L). Các anh, chị, em của ông đã trưởng thành và lập gia đình ở riêng, nên bố, mẹ ông đã tặng cho vợ chồng ông thửa đất là tài sản riêng của bố, mẹ. Việc tặng cho tài sản được lập thành văn bản (h
quyền sử dụng đất) ngày 10/3/2017, có đầy đủ chữ ký của bố, mẹ; tại thời điểm lập
tài sản thì cả bố và mẹ đều khoẻ mạnh, tỉnh táo; có chứng thực của chính quyền địa phương, nên đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Bà Nguyễn Thị H cũng có ý kiến đồng quan điểm với ông Nguyễn Văn S, đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện cùa nguyên đơn.
- Ông Nguyễn Văn C thống nhất ý kiến như nguyên đơn (ông B) đã trình bày, đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đom.
- Bà Hoàng Thị L trình bày: Vợ chồng bà có 06 người cơn (đúng như nguyên đơn đã trình bày). Trong quá trình chung sống vợ, chồng bà đã tạo lập được khối tài sản chung gồm: 01 ngôi nhà cấp 4 lợp ngói và một nhà ngang một trệt, một lầu được xây dựng trên thửa đất đã được Uỷ ban nhân dân huyện L1 cấp GCNQSDĐ số: B987888 ngày 06/10/1992, thửa số 617, tờ bản đồ số 6, diện tích 446 m2, tại Tổ dân phố 8 thị trấn K1, huyện L1, mang tên chồng là ông Nguyễn Văn K. Sau khi chồng bà (ông K) qua đ i thì vợ chồng con trai là Nguyễn Văn S và Nguyễn Thị H lấy lý do bố, mẹ đã cho đất nên gây khó khăn trong việc hương khói cho chồng và tổ tiên, ông bà; thậm chí còn gây sự, xua đuổi bà ra khỏi nhà (hiện tại bà L đang đến sống với gia đình ông B). Bà L cho rằng bà chưa hề có ý thức cho con trai (ông S) đất, bà nhớ rằng ông S có bảo bà ký vào một tờ giấy để cấp đổi lại GCNQSDĐ mang tên chồng bà vì GCNQSDĐ cũ đã lâu, cũ nát. Vì cả tin nên bà L đã ký vào một tờ giấy duy nhất mà không biết đó là âm mưu để vợ, chồng ông S, bà H chiếm đoạt tài sản của vợ chồng bà. Ngày 10/3/2017, sau một thời gian điều trị thì chồng bà (ông K) đã lâm vào tình trạng bệnh xấu nên Bệnh viện huyện L1 phải chuyển ông K vào Bệnh viện Trung ương Huế, nên không thể có mặt để ký
tài sản tại Uỷ ban nhân dân thị trấn K1 được. Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đ bảo vệ quyền lợi cho bà.
- Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị H3 và bà Nguyễn Thị H2 có cùng ý kiến đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật
- Ông Lê Văn P trình bày: Vào ngày 10/3/2017, ông Nguyễn Văn S đến UBND thị trấn K1 nhờ ông đến nhà chứng kiến việc ký h quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn K, bà Hoàng Thị L vói ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H do ông K tuổi cao nên đi lại khó khăn. Khi đến thì
đã được soạn sẵn, ông ki m tra thì thấy
đồng đúng với các quy định của pháp luật. Sau đó ông chứng kiến việc ông K, bà L, ông S, bà H cùng ký vào h
. Tại thời đi m ký, ông K, bà L, ông S, bà H đều minh mẫn, đều nhận thức được việc ký kết h
, không ai bị ép buộc, đe doạ. Việc ký h
tặng cho được thực hiện vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 10/3/2017. Sau khi các bên cùng ký vào h
thì ông đưa
mà các bên đã ký về trụ sở UBND thị trấn K1 để trình Chủ t ch UBND thị trấn là ông Lê Tiến S1 ký chứng thực. Quá trình thực hiện công việc trên đều đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật. Sau khi Chủ tịch UBND thị trấn ký chứng thực thì ông mang h
đến giao lại cho ông Nguyễn Văn S đ ông Nguyễn Văn S làm biến động đất đai.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 10/2019/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2019, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã quyết định:
Căn cứ các Điều 147, 227 Bộ luật tụng dân sự năm 2015; các Điều 117, 122, 127, 129, 131, 132, 457 và Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 10, khoản 3, 4 Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ s gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực
, giao dịch; đi m đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn.
Tuyên bố h
quyền sử dụng đất lập ngày 10/3/2017 giữa bên tặng cho: Ông Nguyễn Văn K và bà Hoàng Thị L với bên được tặng cho: Ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H vô hiệu.
Bà Hoàng Thị L có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân huyện L1, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L1 căn cứ vào bản án, quyết định của Toà án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ sử dụng theo đúng quy định của Luật đất đai.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí, về quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/6/2019, bị đơn ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm
nội dung đề nghị công nhận h
ho quyền sử dụng đất được các bên xác lập ngày 10/3/2017 là hợp pháp.
Viện kiể
Hợp đồng
S
P mang hợp đồng
Ủy ban nhân dân thị trấn K1
3 Điều 36 Nghị định số: 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 cấp bản sao từ s gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực
, giao dịch. Hợp đồng
không
heo ông P, hợp đồng
n
nên không
hợp đồng
hợp đồng
không
kháng cáo
S
.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
quyền sử dụng đất
ông Lê Văn P, việc ký k t
được thực hiện ngay tại nhà riêng của ông Nguyễn Văn S, sau khi các bên (bên tặng cho và bên được tặng cho) ký tên vào
thì ông P tự đưa
đến trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn K1, huyện L1 để ông Lê Tiến S1 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị tr n K1 ký ch ng thực. Thủ tục chứng thực
như trên là trái với quy định của Nghị định số: 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 cấp bản sao từ s gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực
, giao dịch (sau đây viết tắt là Nghị định số 23). Khoản 3 Điều 36 Ngh định 23 quy định: “Các bên tham gia
, giao dịch phải ký
mặt người thực hiện chúng thực”.
tặng cho quyền sử dụng đất gồm 03 trang, nhưng không đánh s trang; trong
chỉ có chữ ký của người tặng cho, người được tặng cho ở trang cu i (trang 3), còn người thực hiện chứng thực không hề có chữ ký ở cả ba trang của
. Thủ tục chứng thực như trên là trái với quy định tại khoản 4 Điều 36 Nghị định số 23: “Đ i với
, giao dịch c ừ hai trang trở lên, thì từng trang phải được đánh s thứ tự, có chữ ký của người yêu c u chứng thực và người chứng thực;...”.
Về thời gian ký kết hợp đ ng: Theo lời trình bày của ông P th việc ký kết
quyền sử dụng đất được thực hiện tại nhà riêng của ông S vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 10/3/2017, tại thời đi m ký kết
các bên đều minh mẫn,
thức được việc ký kết
. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh tại Bệnh v Đa khoa huyện L1, tỉnh Quảng Bình
ông Nguyễn Văn K nhập viện 10 giờ 10 phút ngày 10/3/2017; sau khi được khám
ông K
ch n đoán bị “K vòm họng” nên Bệnh viện Đa khoa huyện L1 đã chỉ định chuyển ông K vào Bệnh viện Trung ương Huế để điều trị trong ngày 10/3/2017. Do đó, tại thời điểm 15 giờ 15 phút ngày 10/3/2017 ông K không còn có mặt tại nhà riêng đ tham gia ký k t
tặng cho quy n sử dụng như lời trình bày của ông P.
h
đất giữa bên tặng cho là ông K, bà L với bên được tặng cho là ông S, bà H có
v hình thức, không tuân thủ trình tự, thủ tục chứng thực theo quy định tại Nghị định s 23, dẫn đến không xác định được h
tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là ông K, bà L với bên được tặng c
ông S, bà H được xác lập vào thời gian cụ thể nào; người chứng thực h
không trực tiếp ch ng kiến việc các bên tham gia ký kết hợp đ ng nên không có căn cứ đ xác định
bên tặng cho có tự nguyện tặng cho ông S, bà H quyền sử dụng đất của mình hay không. Bà L
kh ng định vợ ch ng bà chưa hề có ý định
cho ông S, bà H
đất.
,
chấp nhận yêu c u k
n của nguyên đơn, tuyến b hợp đ ng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là ông K, bà L với bên được tặng cho là ông S, bà H vô hiệu
ật.
không
kháng cáo
ông S và bà H 10/3/2017 là hợp pháp.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông S, bà H phải chịu án phí dân sự
thẩm; tuy nhiên do ông S, bà H thuộc đối tượng người cao tuổi nên
miễn án phí dân sự
thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không c
ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H;
số 10/2019/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2019
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
Căn cứ:
- Điều 117, 122, 129, 131, 132, 457 và 459 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 3, 4 Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ s gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch;
- Đi m đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn
.
2. Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 10/3/2017 giữa bên tặng cho ông Nguyễn Văn K và bà Hoàng Thị L với bên được tặng cho ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H vô hiệu.
3. Bà Hoàng Thị L có quyền đề nghị
an nhân dân huyện L1, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L1 căn cứ vào bản án, quyết định của Toà án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ sử dụng theo đúng quy định của Luật Đất đai.
4. Về án phí:
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm án phí dân sự
cho ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H.
-
cho ông Nguyễn Văn B 300.000 đồng tiền tạm ng án phí dân sự sơ th m
theo biên lai số AA/2017/0005126 ngày 19/12/2018 Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh ; - Cục THADS tỉnh ; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, P.HCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |