vanban.org

Bản án 193/2018/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ vợ chồng: Xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị H, xử cho chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công H ly hôn.

2/ Về con chung: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công H khai không có con chung nên HĐXX không xét. 3/ Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công H khai không có nên HĐXX không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ vợ chồng: Xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị H, xử cho chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công H ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN T
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2018/HNGĐ
Ngày 24/8/2018
Về việc: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Thành Tài

2. Ông Nguyễn Công Phúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Lan – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 92 /2018/TLST-HNST ngày 11 tháng 4 năm 2018 về việc: “Xin ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H – sinh năm 1980 (có mặt).

Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, h Đ, Quảng Nam.

Bị đơn: Nguyễn Công H – sinh năm 1980 (có mặt).

Trú tại: Tổ 18, thôn Q, xã B, T, Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị H trình bày:

Tôi và anh Nguyễn Công H tự tìm hiểu và kết hôn năm 2016 có đăng ký tại UBND xã B, huyện T, Quảng Nam. Trong quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẩn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh H uống rượu say xỉn về nhà đánh đập tôi, chúng tôi đã sống ly thân khoảng 06 tháng không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau, tôi sống ở huyện Đ, tỉnh Quảng Nam còn anh H sống ở xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Nay tôi thấy tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không đem lại hạnh phúc nên mong tòa cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Công H.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Công H trình bày tại bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên Tòa: Về thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẩn tôi đồng ý với lời trình bày của cô Hòa, ngoài ra còn một nguyên nhân nữa là cô H ngoại tình với người khác. Tôi và cô H đã sống ly thân nhau được khoảng 6 tháng. Nay cô H xin ly hôn tôi không thống nhất, tôi vẫn còn yêu vợ, nên mong tòa cho vợ chồng chúng tôi được đoàn tụ

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư Ký, Hội đồng xét xử, các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, trình tự thu thập chứng cứ là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Xử:

Về quan hệ vợ chồng: Xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị H, xử cho chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công H ly hôn.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh h đều khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ lời trình bày của đương sự căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án có bị đơn anh Nguyễn Công H cư trú tại huyện T, tỉnh Quảng Nam. Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công H tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T, như vậy hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trong quá trình chung sống vợ chồng tính tình không hợp, luôn bất đồng về quan điểm và cách sống anh H thường xuyên uống rượu say xỉn đánh đập chị H nên chị H anh H đã sống ly thân gần 06 tháng. Chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không đem lại hạnh phúc nên xin được ly hôn với anh Nguyễn Công H. Về phía anh H thì thấy được sai trái của mình, xin khắc phục, sửa chửa để vợ chồng đoàn tụ làm ăn. Xét việc xin ly hôn của chị H và yêu cầu xin đoàn tụ của anh H thì thấy: Mặc dù mâu thuẩn của anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần và Tòa án đã hòa giải đoàn tụ thành nhưng anh H vẫn không sửa sai. Anh H và chị H sống ly thân nhau được khoảng 06 tháng, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau, chị H sống tại quê nhà ở xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam còn anh H thì sống tại xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị H xin ly hôn là có cơ sở, phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Không chấp nhận yêu cầu đoàn tụ của anh Nguyễn Công H.

Về con chung: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công H khai không có con chung nên HĐXX không xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công H khai không có nên HĐXX không xét.

Án phí LHST: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng y) xét buộc chị Đinh Thị H phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí LHST 300.000 đồng chị Đinh Thị H đã nộp theo biên lai thu số 0020641 ngày 11/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 51; Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ vợ chồng: Xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị H, xử cho chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công H ly hôn.

2/ Về con chung: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công H khai không có con chung nên HĐXX không xét.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công H khai không có nên HĐXX không xét.

4/ Án phí LHST: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng y) xét buộc chị Đinh Thị H phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí LHST 300.000 đồng chị Đinh Thị H đã nộp theo biên lai thu số 0020641 ngày 11/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thăng Bình.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ