vanban.org

Bản án 193/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 15/06/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Phùng Tiến T 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2017.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư dán kín niêm phong có số 206/KLGĐ- PC54 ngày 06/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh. (Theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố B ngày 27/4/2017). B… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phùng Tiến T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Phùng Tiến T 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2017.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…; Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2017/HSST
Ngày 15/6/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT H

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đức Phú; Ông Nguyễn Sự.

Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa:

Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Hiếu Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Lê, Kiểm sát viên.

Ngày 15/6/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 193/2017/HSST ngày 04/5/2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2017/QĐXX – HSST ngày 01/6/2017 đối với bị cáo:

Phùng Tiến T, sinh năm 1988.

HKTT: Thôn YG, xã YG, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Kinh.

Con ông: Phùng Tiến N (Đã chết) và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1952; Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là thứ 05; Vợ Con: chưa có.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2017 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bản cáo trạng số 100/2017/CTr ngày 04/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố Phùng Tiến T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Khoảng 14h50’ ngày 06/02/2017, tại khu 5, phường Đ, thành phố B tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang Phùng Tiến T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã bắt giữ T cùng toàn bộ tang vật đưa về trụ sở công an phường lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong tang vật gửi đi giám định.

Vật chứng thu giữ: Thu tại dưới đất cạnh vị trí T đứng 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng.

Tại bản kết luận giám định số 206/KLGĐ- PC54 ngày 06/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng có trọng lượng 0,3616 gam. Loại ma túy: chất Heroine”

Quá trình xét hỏi tại cơ quan điều tra bị cáo T đã khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 14h ngày 06/02/2017, T đi bộ từ nhà đến nhà anh Nguyễn Thanh A, sinh năm 1988 là hàng xóm của T, T bảo A chở T đi có việc, anh A đồng ý. Sau đó A điều khiển xe mô tô Honda BKS: 99V1 – 1670 của anh A chở T đi đến gần khu vực trường tiểu học Đ thuộc khu 1, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thì T bảo anh A dừng xe đứng ở ven đường đợi còn T đi bộ vào trong 01 ngõ, T đến trước cửa 01 ngôi nhà có cửa sắt ( nay T không nhớ rõ nhà đó là nhà nào). T bấm chuông thì thấy 01 người phụ nữ không quen biết, T bảo người phụ nữ có ma túy bán không bán cho T 200.000 đồng, người phụ nữ bảo có, T đưa qua khe cửa cho người phụ nữ 200.000 đồng, người phụ nữ nhận tiền và đưa lại cho T 01 gói giấy bạc màu trắng. T biết bên trong gói giấy bạc màu trắng có ma túy nên T nhận và cầm ở tay trái và đi bộ ra chỗ anh A đang đợi, anh A chở T về nhà. Trên đường về, anh A và T gặp tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra về ma túy Công an thành phố B, sợ bị phát hiện, T đã ném gói ma túy mừa mua được xuống đất, cạnh vị trí chỗ T đang đứng. Tổ công tác đã kiểm tra bắt giữ T cùng tang vật.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận tội, lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định có đủ cơ sở xác định Phùng Tiến T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1, Điều 194; điểm p, khoản 1, Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự

Áp dụng Nghị quyết 144/2016/NQ- QH ngày 29/6/2016. Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội. Xử phạt:

Bị cáo Phùng Tiến T từ 16 đến 18 tháng tù.

Phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư số 206/KLGĐ- PC54 ngày 06/02/2017 có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh.

Bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố là đúng, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, cụ thể: Lời khai của Phùng Tiến T phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ và tang vật thu giữ do vậy HĐXX xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14h50 ngày 06/02/2017 Phùng Tiến T đã có hành vi cất giữ bất hợp pháp 0,3616 gam ma túy, là chất Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạm vào khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trên địa bàn. Trong khi cả xã hội ra sức loại bỏ tệ nạn nghiện hút ra khỏi đời sống cộng đồng thì bị cáo lại ngang nhiên tàng trữ ma túy, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo T.

Mặt khác, như chúng ta điều biết ma túy là hiểm họa của loài người, ngoài việc tiêu tốn tiền cho cơn nghiện, nguy hại hơn việc sử dụng ma túy là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS trong cộng đồng; làm ảnh hưởng tới sức khỏe bản thân, giống nòi...Ma túy còn gây nhiều hệ lụy khác cho xã hội. Do vậy, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi mà bị cáo đã phạm mới có dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, đã tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự, do vậy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước. Đồng thời căn cứ Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội về Thi hành Bộ luậ Hình sự; Nghị Quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 về việc lùi hiệu lực thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và công văn số 276/TANDTC - PC ngày 13/9/2016 của TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù nên cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị của Đại điện Viện kiểm sát thành phố B là có căn cứ và phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo T ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới giúp bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư số 206/KLGĐ- PC54 ngày 06/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay.

Liên quan trong vụ án này: Có người phụ nữ đã bán ma túy cho T nhưng T không biết rõ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của người này. Do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thanh A là người chở T, xong T không nói cho anh A biết việc T thuê xe là để đi mua ma túy nên anh A không biết việc T đi mua ma túy, do vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý đối với anh A là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, Điều 194; điểm p, khoản 1, Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên bố Phùng Tiến T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội. Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội.

Xử phạt: Phùng Tiến T 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2017. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 15/6/2017 để đảm bảo thi hành án.

- Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư dán kín niêm phong có số 206/KLGĐ- PC54 ngày 06/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh. (Theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố B ngày 27/4/2017).

- Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án buộc Phùng Tiến T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ