vanban.org

Bản án 192 — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN
HUYỆN GOØ COÂNG ĐÔNG
TÆNH TIEÀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Baûn aùn soá: 192/2022/DS-ST
Ngaøy: 06/9/2022
V/v “Tranh chấp đòi lại tài sản".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:

Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Lê Thị Nguyệt Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân

1. Bà Huỳnh Thị Tỏ

2. Bà Huỳnh Thị Mỹ Hà

Thö kyù phieân toøa: Bà Hoàng Thị Thảo – thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên tòa.

Ngày 06 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 129/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2022/QÑXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2022 giöõa caùc ñöông söï:

1. Nguyên đơn: Đặng Thị L, sinh năm 1969; (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện G, tỉnh T.

2. Bị đơn: Đỗ Thị Mỹ D, sinh năm 1970; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện G, tỉnh T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Đặng Thị L trình bày: Qua quen biết vào ngày 05/7/2020 bà D có nhận của bà số tiền 15.000.000 đồng, ngày 05/9/2020 nhận tiếp 5.000.000 đồng. Mục đích nhận tiền là để làm thủ tục giấy tờ cho bà tại Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông để Tòa án đình chỉ vụ án và không mời bà lên nữa nhưng sau khi nhận tiền xong bà D không thực hiện đúng như thỏa thuận nên bà có yêu cầu bà D trả lại số tiền trên nhưng bà D cố tình né tránh.

Nay bà yêu cầu bà D có nghĩa vụ trả cho bà số tiền còn nợ tổng cộng là 20.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi với thời gian 02 năm với số tiền 2.400.000 đồng. Yêu cầu trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn bà Đỗ Thị Mỹ D vắng mặt không lý do dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên không thể hiện ý kiến của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Quan hệ mà các bên đang tranh chấp là “tranh chấp đòi lại tài sản” được qui định tại điều 166, 123 Bộ luật Dân sự là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Đỗ Thị Mỹ D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, hai lần thông báo về phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đến dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt bà Đỗ Thị Mỹ D theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của bà Đặng Thị L yêu cầu bà Đỗ Thị Mỹ D có nghĩa vụ trả số tiền 20.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi bà D nhận tiền của bà L có viết và ký tên vào giấy nhận tiền ngày 05/7/2020. Trong quá trình giải quyết vụ án bà D không đến Tòa để trình bày ý kiến phản đối của mình đối với tài liệu, chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của bà L, điều đó cho thấy bà D mặc nhiên thừa nhận và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L. Từ đó đã đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật dân sự.

Tại phiên tòa bà L rút lại yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét yêu cầu của bà L về thời gian trả số tiền 20.000.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay bà L yêu cầu bà D trả số tiền 20.000.000 đồng làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy, thời hạn thỏa thuận giải quyết sự việc đã xong nhưng đến nay bà D đã vi phạm thỏa thuận nên yêu cầu của bà L về thời gian trả là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ:

- Điều 166, 123 Bộ luật Dân sự;

- Điều 26, Điều 35, Điều 92, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Xử

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị L.

Buộc bà Đỗ Thị Mỹ D có nghĩa vụ trả cho bà Đặng Thị L số tiền là 20.000.000 đồng. Thời gian trả khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ khi bà L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà D chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2/ Về án phí:

Bà Đỗ Thị Mỹ D phải nộp 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm;

Hoàn lại cho bà Đặng Thị L số tiền 560.000 đồng (Năm trăm sáu mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007933 ngày 09 tháng 6 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ