vanban.org

Bản án 192/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hộ Kinh Doanh Châu Kim H.

Buộc ông Lâm Văn H1 có nghĩa vụ trả cho H3 kinh doanh Châu Kim H tổng số tiền là 16.491.110 đồng (trong đó nợ gốc là 8.000.000 đồng và lãi là 8.491.110 đồng). 2/ Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông H1 phải nộp số tiền 824.555 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Châu Kim Hồng - Lâm Văn Huy"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hộ Kinh Doanh Châu Kim H.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2026/DS-ST
Ngày: 17/7/2026
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Cung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Nhạn

Bà Cao Thị Mỹ Phượng

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 382/2026/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2026/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2026, giữa:

Nguyên đơn: Hộ kinh doanh Châu Kim H;

Địa chỉ: Khóm C, phường L, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Châu Kim H, sinh năm 1965;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thái L, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Khóm C, phường L, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Lâm Văn H1, sinh năm 1965;

Địa chỉ: Khóm A, phường G, tỉnh Cà Mau.

Các đương sự có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/5/2026 và các lời khai tiếp theo trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 05/02/2015 ông Lâm Văn H1 có đến cửa hàng kinh doanh Châu Kim H (HKD C) để mua 01 Thùng, 01 Miro, 01 Niệm, 01 Tủ Tivi, 01 Đồ Lọc trị giá 10.000.000 đồng, việc mua bán đã hoàn thành ông Lâm Văn H1 đã nhận được tài sản mua, việc mua bán có lập hợp đồng mua bán, ông Lâm Văn H1 có trả trước 500.000 đồng, còn lại 9.500.000 đồng, phương thức thanh toán 1.000.000 đồng/tháng từ ngày 05/02/2015 đến ngày 05/12/2015. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán thì ông H1 không thanh toán đúng hạn cho Cửa hàng Châu Kim H, từ ngày 05/02/2015 đến ngày 06/12/2015 ông H1 chỉ trả cho Cửa hàng Châu Kim H2 số tiền 1.500.000 đồng, còn nợ 8.000.000 đồng. Ông Lâm Văn H1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Cửa hàng C, mặc dù bên Cửa hàng Châu Kim H nhiều lần liên hệ với ông H1 yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng như hợp đồng mua bán trả góp đã ký, tuy nhiên phía ông H1 không hợp tác. Nay yêu cầu ông Lâm Văn H1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ là 8.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật đối với số tiền chậm trả từ ngày 06/12/2015 đến khi trả hết số nợ trên.

Bị đơn ông Lâm Văn H1 trình bày: Vào ngày 05/02/2015 ông có đến Cửa hàng kinh doanh Châu Kim H (HKD C) để mua 01 Thùng , 01 Miro, 01 Niệm, 01 Tủ Tivi, 01 Đồ Lọc trị giá 10.000.000 đồng, việc mua bán đã hoàn thành, ông đã nhận được tài sản mua, việc mua bán có lập hợp đồng mua bán, ông trả trước 500.000 đồng còn lại 9.500.000 đồng với phương thức thanh toán 1.000.000 đồng/tháng từ ngày 05/02/2015 đến ngày 05/12/2015. Số tiền còn lại 8.000.000đ ông đã thanh toán xong nên ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau trình bày quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn và bị đơn từ khi tham gia tố tụng đến nay, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí bị đơn phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Lâm Văn H1 trả số tiền mua bán tài sản là 8.000.000đ, bị đơn có địa chỉ tại phường G, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau theo quy định tại Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Người đại diện theo ủy quyển của nguyên đơn và bị đơn thống nhất xác định, tại “Hợp đồng mua bán trả góp” ngày 05/02/2015, thể hiện ông Lâm Văn H1 có mua của cửa hàng kinh doanh Châu Kim H các mặt hàng: 01 Thùng, 01 Miro, 01 Niệm, 01 Tủ Tivi, 01 Đồ Lọc trị giá 10.000.000 đồng, trả trước 500.000đ, còn lại 9.500.000đ, mỗi tháng trả 1.000.000đ, thời hạn từ ngày 05/02/2015 đến 05/12/2015.

Quá trình làm việc tại Tòa án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định từ ngày 05/02/2015 đến ngày 06/12/2015, ông Lâm Văn H1 chỉ thanh toán được số tiền 1.500.000đ, còn nợ lại 8.000.000đ. Bị đơn ông Lâm Văn H1 xác định đã trả xong số tiền 9.500.000đ cho cửa hàng Châu Kim H, tuy nhiên ông H1 không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hiện tại ông Lâm Văn H1 còn nợ H3 kinh doanh Châu Kim H số tiền là 8.000.000đ.

[3] Xét yêu cầu tính lãi: Xét yêu cầu lãi suất của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 440 và Điều 468 Bộ luật dân sự thì yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn là có căn cứ. Ông H1 chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền từ ngày 06/12/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 17/7/2026 là 10 năm 07 tháng 11 ngày, áp dụng mức lãi suất là 10%/năm. Cụ thể: 8.000.000 đồng x 10%/năm x 10 năm 07 tháng 11 ngày = 8.419.110 đồng.

Với những phân tích trên có căn cứ yêu cầu khởi kiện của H3 kinh doanh Châu Kim H. Buộc ông Lâm Văn H1 có nghĩa vụ trả cho H3 kinh doanh Châu Kim H tổng số tiền 16.491.110 đồng (trong đó nợ gốc là 8.000.000 đồng và lãi là 8.491.110 đồng).

Xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ như Hội đồng xét xử nhận định nêu trên nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 430, Điều 440 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hộ Kinh Doanh Châu Kim H.

Buộc ông Lâm Văn H1 có nghĩa vụ trả cho H3 kinh doanh Châu Kim H tổng số tiền là 16.491.110 đồng (trong đó nợ gốc là 8.000.000 đồng và lãi là 8.491.110 đồng).

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông H1 phải nộp số tiền 824.555 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

3/ Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ