vanban.org

Bản án 192/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 -Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP đối với ông Võ Văn M về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Buộc ông Võ Văn M phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP số tiền mua thức ăn và thuốc thủy sản còn thiếu là 26.348.000 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng), trong đó tiền vốn gốc là 21.810.000 đồng, tiền lãi là 4.538.000 đồn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản giữa Bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP với ông Võ Văn M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 -Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP đối với ông Võ Văn M về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 -VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2025/DS-ST
Ngày: 28/9/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8-VĨNH LONG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi.

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Võ M Quang.

2. Bà Đào Thị Tuyết Mai.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Long – Cán bộ Tòa án nhân dân khu vực 8-Vĩnh Long.

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 8-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số: 57/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2025/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 81/2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP

Địa chỉ: Tổ 6, ấp 4 Cây Trôm, xã Bình Đại, tỉnh Vĩnh Long.

Bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP ủy

quyền cho bà Phan Kỳ D, sinh năm 2001, địa chỉ: Số 74/2, ấp An Hội B, xã AQ, tỉnh Vĩnh Long.

Bà Đặng Thị D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Võ Văn M, sinh năm 1974 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Tân Định, xã TT, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/12/2024, những lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, người được nguyên đơn Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP ủy quyền, bà Phan Kỳ D trình bày:

Bà Đặng Thị D, sinh năm 1995- Chủ hộ kinh doanh Hưng LP ký hợp đồng mua, bán tài sản với bên bị đơn Võ Văn M, cụ thể bên nguyên đơn bán thức ăn nuôi tôm, hóa chất và thuốc nuôi tôm cho ông Võ Văn M. Hai bên thỏa thuận, sau khi bên ông M thu hoạch tôm xong sẽ thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bên nguyên đơn. Tuy nhiên, sau đó, bên bị đơn Võ Văn M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Đến ngày 20/5/2022, sau khi đối chiếu công nợ, số tiền bị đơn Võ Văn M còn thiếu lại bên nguyên đơn là 22.810.000 đồng (Hai mươi hai triệu tám trăm mười nghìn đồng) nhưng bên nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ, yêu cầu ông M trả số tiền còn nợ, ông M hứa hẹn nhiều lần nhưng không thanh toán số tiền nợ còn thiếu nguyên đơn.

Bà Phan Kỳ D yêu cầu xét xử buộc ông Võ Văn M phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền mua thức ăn, thuốc nuôi tôm và hóa chất thủy sản còn thiếu là 21.810.000 đồng (Hai mươi mốt triệu tám trăm mười nghìn đồng), đồng thời yêu cầu tính tiền lãi từ ngày 26/8/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 28/9/2025), với thời gian tính lãi là 25 tháng 02 ngày, lãi suất 0,83%/tháng.

Số tiền lãi được tính như sau: 21.810.000 x 0.83% x 25 tháng 2 ngày = 4.538.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ba mươi tám nghìn đồng).

Vậy tổng số tiền gốc và lãi mà ông Võ Văn M phải thanh toán cho bà Đặng Thị D - chủ hộ kinh doanh đại lý Hưng LP là: 21.810.000 đồng + 4.538.000 đồng = 26.348.000 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

(Tài liệu, chứng cứ do bên nguyên đơn giao nộp là bảng đối chiếu xác nhận công nợ ngày 20/5/2022

Trong suốt quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn Võ Văn M từ chối tham gia tố tụng, bất hợp tác với Tòa án, đồng thời cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ và ý kiến, lời khai gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn Võ Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt không lý do, do đó xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Vào năm 2022, bà Đặng Thị D là chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP có ký kết hợp đồng mua bán tài sản với bên bị đơn Võ Văn M, cụ thể bên nguyên đơn bán thức ăn nuôi tôm, hóa chất và thuốc nuôi tôm cho ông Võ Văn M. Hai bên thỏa thuận, sau khi bên bị đơn Võ Văn M thu hoạch tôm xong sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên nguyên đơn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bên bị đơn Võ Văn M đã thực hiện xong quyền nhận tài sản là thức ăn, hóa chất và thuốc thủy sản. Tuy nhiên, đến khi thu hoạch tôm, bên bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận là vi phạm Điều 430, 440 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác đối với bị đơn Võ Văn M không cung cấp lời khai, ý kiến phản đối qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, từ chối tham gia tố tụng, không hợp tác với Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc, xem như bị đơn tự từ bỏ quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trước Tòa án. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền 21.810.000 đồng (Hai mươi mốt triệu tám trăm mười nghìn đồng) là có cơ sở nên được chấp nhận.

Xét yêu cầu tính tiền lãi của bên nguyên đơn.

Do đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bên bị đơn Võ Văn M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, do đó bên nguyên đơn Đặng Thị D yêu cầu tính tiền lãi theo mức lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật là 0,83%/tháng tính từ ngày 26/8/2023 đến ngày 28/9/2025, với thời gian tính lãi 25 tháng 2 ngày là có cơ sở nên được chấp nhận.Số tiền lãi được tính như sau:

Số tiền lãi được tính như sau: 21.810.000 đồng x 0.83% x 25 tháng 2 ngày = 4.538.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ba mươi tám nghìn đồng).

Vậy tổng số tiền gốc và lãi mà ông Võ Văn M phải thanh toán cho bà Đặng Thị D - chủ hộ kinh doanh đại lý Hưng LP là: 21.810.000 đồng + 4.538.000 đồng = 26.348.000 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Yêu cầu khởi kiện của Đặng Thị D được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, do đó ông Võ Văn M phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 280, 357, 430, 434, 440, 357; Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 -Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP đối với ông Võ Văn M về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Buộc ông Võ Văn M phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP số tiền mua thức ăn và thuốc thủy sản còn thiếu là 26.348.000 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng), trong đó tiền vốn gốc là 21.810.000 đồng, tiền lãi là 4.538.000 đồng

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch

Ông Võ Văn M phải chịu số tiền 1.317.000 đồng (Một triệu ba trăm mười bảy nghìn đồng).

Hoàn trả lại cho bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 599.550 đồng (Năm trăm chín mươi chín nghìn năm trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011103 ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8-Vĩnh Long).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn bà Đặng Thị D, sinh năm 1995 - Chủ hộ kinh doanh Đại lý Hưng LP, bị đơn Võ Văn M vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ