vanban.org

Bản án 192/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức A đối với bị đơn bà Chu Thị Kiều O về việc tranh chấp ly hôn.

1 Về hôn nhân: Ông Nguyễn Đức A được ly hôn với bà Chu Thị Kiều O. Quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Đức A và bà Chu Thị Kiều O chấm dứt cũng như giấy chứng nhận kết hôn số 29 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức A đối với bị đơn bà Chu Thị Kiều O về việc tranh chấp ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17-03-2023
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cẩm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Tuyết Hằng

2. Ông Vũ Huy Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 03 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1158/2022/TLST-HNGĐ ngày 19/12/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/01/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23/02/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức A, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Căn M chung cư F, ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ông A có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

2. Bị đơn: Bà Chu Thị Kiều O, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Căn M chung cư F, ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bà O vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 05/12/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án - Nguyên đơn ông Nguyễn Đức A trình bày:

Ông và bà Chu Thị Kiều O đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào ngày 09/5/2022. Từ đó cho đến nay, trong suốt thời gian chung sống thì bà O thường xuyên xúc phạm, chửi mắng ông và gia đình ông. Dẫn đến hai vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống nhiều áp lực, căng thẳng. Vì vậy, ông và bà O đã ly thân từ tháng 10 năm 2022 cho đến nay, do đó ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà Chu Thị Kiều O.

Về con chung, ông xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, ông xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, ông xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho bà Chu Thị Kiều O gồm: thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà Chu Thị Kiều O vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày, tranh luận của các bên đương sự thì xét thấy thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn ông Nguyễn Đức A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn bà Chu Thị Kiều O, theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Chu Thị Kiều O có đăng ký tạm trú và thực tế còn cư trú tại địa chỉ Căn M chung cư F, ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự vắng mặt của các đương sự:

- Nguyên đơn ông Nguyễn Đức A có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông A theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với bị đơn bà Chu Thị Kiều O, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự cho bà Chu Thị Kiều O nhưng bà O vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà O theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 29 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp ngày 09/5/2022 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông A và bà O là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo trình bày của ông A xác định giữa ông và bà O phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Vì vậy, ông A yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà O. Còn bà O vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến, yêu cầu về các yêu cầu khởi kiện của ông A.

Hội đồng xét xử xét thấy, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án thì bà O vắng mặt, hai bên sống ly thân, như vậy, mâu thuẫn giữa ông A và bà O là có diễn ra. Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa ông A và bà O đã không đạt được, đời sống chung giữa hai vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài. Do đó, ông A yêu cầu ly hôn đối với bà O là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Ông A xác nhận giữa ông và bà O chung sống không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung: Ông A xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn bà O vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của bà về tài sản chung giữa bà và ông A. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề tài sản chung theo yêu cầu của ông A, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.

Về nợ chung: Ông A xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn bà O vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của bà về nợ chung giữa bà và ông A. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề nợ chung theo yêu cầu của ông A, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn ông Nguyễn Đức A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức A đối với bị đơn bà Chu Thị Kiều O về việc tranh chấp ly hôn.

1.1 Về hôn nhân: Ông Nguyễn Đức A được ly hôn với bà Chu Thị Kiều O. Quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Đức A và bà Chu Thị Kiều O chấm dứt cũng như giấy chứng nhận kết hôn số 29 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2 Về con chung: Ông Nguyễn Đức A xác nhận không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết.

1.3 Về tài sản chung: Ông Nguyễn Đức A xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.

1.4 Về nợ chung: Ông Nguyễn Đức A xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.

2. Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Đức A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà ông A đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0042219 ngày 14/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông A đã nộp đầy đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ