- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn D-H"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngân D, cụ thể:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 192/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16-8-2023 V/v: Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Bộ.
Ông Lê Mạnh Nhanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Luân – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 114/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 về việc Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngân D, sinh năm 1994. Có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 4, xã P, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Trịnh Công H, sinh năm 1989. Có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 4, xã P, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lê Thị Ngân D trình bày:
Chị và anh Trịnh Công H kết hôn với nhau vào năm 2013, trong thời gian chung sống, vợ chồng có 03 con chung là cháu Trịnh Quốc K, sinh ngày 13/12/2014; cháu Trịnh Thảo L, sinh ngày 07/02/2017 và cháu Trịnh Thảo N, sinh ngày 05/01/2020. Do vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên đã ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 246/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị và anh Trịnh Công H. Về con chung, trong quyết định ghi nhận hai bên thỏa thuận anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung và không yêu cầu chị D trợ cấp nuôi con chung. Chị D được quyền thăm nom, chăm sóc các con chung mà không ai được ngăn cản. Tại phiên tòa chị D đã trình bày: Sau khi có Quyết định của Tòa án đến nay, anh H vẫn đảm bảo cho các con đến trường đi học đầy đủ, về điều kiện vật chất các con chung vẫn được đảm bảo, chị D đã tự nguyện trợ cấp cho anh H trên thực tế nhưng anh H từ chối không nhận bất cứ thứ gì của chị gửi cho các con, Tuy nhiên anh H làm nghề lái xe đi đêm về hôm không tiện chăm sóc các con bằng chị. Bản thân chị thời kỳ đầu mới ly hôn được vài tháng, anh H còn cho chị thăm gặp con và đưa đón, cho con đi chơi nhưng thời gian gần đây anh H đã ngăn cấm chị không cho đưa đón các con về nhà chị chơi ngày nghỉ, ngày lễ tết nên chi cảm thấy bị mất quyền làm mẹ chăm sóc các con, hiện tại chị có nhà ở của bố mẹ đẻ ổn định tại xã An Tiến, chị đi làm tại công ty bảo hiểm tại Hà Nội có mức thu nhập bình quân từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng/tháng và có bố mẹ phụ giúp nuôi dạy các con của chị nên chị có yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con, chị xin nuôi cả 03 con chung nhưng cháu Khánh là con trai lớn có nguyện vọng xin được ở với bố thì chị cũng nhất trí và đề nghị giao hai con chung là cháu Thảo L và Thảo N cho chị nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H trợ cấp nuôi con chung.
Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Trịnh Công H trình bày:
Anh xác nhận việc anh và chị Lê Thị Ngân D đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 246/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06/12/2021 của TAND huyện Mỹ Đức và việc anh được nuôi cả 03 con chung là do hai bên thỏa thuận được sự đồng ý của chị D, khi đó các con chung còn nhỏ, chồng chất khó khăn thì anh phải nuôi dạy, nay mọi vẫn đề khó khăn đã vuợt qua, bố con anh đang vui vẻ hòa thuận thì chị D lại muốn đòi nuôi cả 03 con chung, anh không nhất trí vì cho rằng anh không có ngăn cấm, hay cản trở gì việc chị D thăm con cả, nhưng việc đưa đón các con thì phải xin phép và được sự đồng ý của anh, chưa bao giờ anh ngăn cản chị D chăm sóc, đưa đón các con đi chơi vào ngày nghỉ nhưng ngày nghỉ thứ bẩy, chủ nhật nào cũng đưa đón các con của anh đi là không được. Về trợ cấp nuôi con chung, từ ngày anh một mình nuôi 03 con chung chị D chưa lần nào chủ động mua sắm đồ dùng hay trực tiếp gửi tiền nuôi dạy con chung cho anh cả, Nay chị D có đơn đề nghị Tòa án thay đổi quyền nuôi con và xin nuôi dưỡng các con chung thì anh không đồng ý vì từ thời điểm ly hôn đến nay anh vẫn chăm sóc các con chung rất tốt, không để xảy ra bất cứ vấn đề gì trong cuộc sống, đảm bảo cho các cháu ăn học đầy đủ và có bố mẹ đẻ anh ở nhà phụ giúp. Anh cũng không ngăn cản việc chị D về thăm nom con, chị D về lần nào thăm nom con anh đều tạo điều kiện tốt nhất. Hiện nay anh đang lái xe du lịch của anh với mức thu nhập từ 15.000.000 đến 20.000.000 đồng/tháng. Do là xe của cá nhân anh nên anh tự làm và có thu nhập, do vậy không thể có xác nhận cụ thể về mức thu nhập bằng văn bản gửi Tòa án được. Anh vẫn có nguyện vọng được nuôi cả 03 con chung.
Ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức về việc giải quyết vụ án:
Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngân D, cụ thể:
Giao 01 con chung là cháu Trịnh Thảo N, sinh ngày 05/01/2020 cho chị Lê Thị Ngân D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. giao anh H nuôi 02 con chung còn lại, Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị Ngân D không yêu cầu anh Trịnh Công H cấp dưỡng nuôi con chung.
Các bên có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
- Về án phí: đương sự phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến của các đương sự bằng văn bản và đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Trịnh Công H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn 04, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung của nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngân D và anh Trịnh Công H đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 246/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Về con chung, anh và chị đã thỏa thuận giao cả 03 con chung cho anh H được trực tiếp nuôi dưỡng là không trái pháp luật. Tuy nhiên đến nay chị D cho rằng do bị ảnh hưởng quyền thăm nom của chị đối với các con do anh H ngăn cấm nên chị xin nuôi cả 03 con chung, mặt khác, về hiện tại chị trình bày đã đủ điều kiện về chỗ ở và thu nhập ổn định, phía anh H chị cho rằng anh làm nghề lái xe đêm hôm không có thời gian gần giũ các con để trực tiếp dạy các con học hành. Nhưng phía chị có thời gian ban tối để chỉ bảo các con học hành nên chị xin nhận nuôi cả 03 con chung để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các con. Xét thấy về điều kiện chỗ ở và thu nhập của chị D đã chứng minh có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tại phiên tòa, bố đẻ chị D là ông Nghi cũng trình bày ông bà có nhà ổn định ở quê An Tiến nhưng ông làm bảo vệ ở công ty của con gái ngoài Hà Nội, mẹ chị D cũng ra đó buôn bán và ở cùng chị D nơi thuê nhà ngoài Hà Nội nên có điều kiện cùng chị D chăm sóc con chung hỗ trợ cho chị D một cách tốt nhất. Tuy nhiên việc chị D cho rằng trong thời gian sau ly hôn chị bị anh H cấm cản không cho thăm gặp con chung và từ chối không nhận trợ cấp của chị nuôi con chung nhưng không đưa ra được căn cứ nào để chứng minh các trình bày này. Trong khi đó bản thân chị cũng thừa nhận anh H đang nuôi dạy con chung đủ điều kiện về vật chất cũng như điều kiện học hành, Anh H cũng thu nhập cao, lái xe trong ngày nên vẫn có điều kiện gần gũi con cái, các cháu đang có chỗ ở và học hành ổn định, về mặt tâm sinh lý không bị xáo trộn nên việc giao con chung cho anh H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là cần thiết, nhưng để chia sẽ đỡ gánh nặng nuôi dạy con chung cho anh H, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giao cho chị D nuôi 01 con chung là cháu cháu Trịnh Thảo Ngọc, sinh ngày 05/01/2020, giao anh H tiếp tục nuôi 02 con chung là cháu Trịnh Quốc Khánh, sinh ngày 13/12/2014; cháu Trịnh Thảo Linh, sinh ngày 07/02/2017, không bên nào phải trợ cấp nuôi con chung cho bên nào cho đến khi các con chung trưởng thành hoặc cho đến khi các bên có yêu cầu mới về người trực tiếp nuôi con chung và trợ cấp nuôi con chung là phù hợp pháp luật quy định tại Điều 84 luật Hôn nhân gia đình.
Các bên có quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cản.
Về án phí: Nguyên đơn được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, 266, 271, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Áp dụng các Điều 84, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngân D, cụ thể:
1. Buộc anh Trịnh Công H phải giao 01 con chung Trịnh Thảo N, sinh ngày 05/01/2020 cho chị Lê Thị Ngân D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao anh Trịnh Công H tiếp tục nuôi 02 con chung là cháu Trịnh Quốc K, sinh ngày 13/12/2014 và cháu Trịnh Thảo L, sinh ngày 07/02/2017. Không bên nào phải trợ cấp nuôi con chung cho bên nào cho đến khi các con chung trưởng thành hoặc cho đến khi các bên có yêu cầu mới về người trực tiếp nuôi con chung và trợ cấp nuôi con chung.
Các bên, anh H và chị D có quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cản.
2. Về án phí: Buộc anh Trịnh Công H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, hoàn trả lại cho Chị Lê Thị Ngân D 300.000 tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0039344 ngày 01/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - UBND nơi đăng ký khai sinh; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hồng |