- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn L - Vận chuyển trái phép chất ma tuý - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 80,77 gam ma tuý Heroine và 291,245 gam ma túy Methamphetamine; 01 (một) chiếc bơm kim tiêm, đã qua sử dụng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:192/2022/HS-ST Ngày: 27 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Hồng Trang
Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thuý Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Hường
Ông Hồ Bá Võ
Ông Trần Văn Mão
- Thư ký phiên tòa:Ông Thái Hoàng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dântỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:Bà Phan Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 216/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Văn L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 19 tháng 7 năm 1997 tại huyện C, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn N (đã chết) và bà Lô Thị Ph, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có; tiền án, nhân thân: Không; tiền sự: Bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 15/2019/QĐ-TA ngày 29/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, thời gian 24 tháng. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2022 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đinh Thị S, Văn phòng Luật sư Thành Điệp và Cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Văn L là người nghiện chất ma túy nên thường xuyên đi vào khu vực đồi thuộc bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An để xin ma túy sử dụng, tại đây L gặp và quen người đàn ông tên T (tên thật là Kha Ngọc Q, sinh ngày 06/02/1993, trú tại bản M, thị trấn T, huyện T) và người đàn ông tên Q (tên thật là Lương Văn T, sinh ngày 23/7/1995, trú tại bản M, thị trấn T, huyện T). Q và T thường xuyên vào khu vực đồi thuộc bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương để sử dụng ma túy. Khoảng 19 giờ ngày 18/8/2022, L đi vào khu vực đồi thuộc bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương để xin ma túy sử dụng. Tại đây, L gặp Q và T, ba người cùng nhau sử dụng ma túy Heroine. Sau khi sử dụng ma túy, Q nói L đi bộ xuống đồi, cách đó khoảng 100 mét, Q lấy một ít ma túy Heroine ra cùng L tiếp tục sử dụng. Lúc này, Q đặt vấn đề thuê L đi giao ma túy cho một người phụ nữ(không rõ lai lịch, địa chỉ) ở xã Châu Khê, huyện C, tỉnh Nghệ An, với số tiền công là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), L đồng ý. Q đưa cho L 01 (một) gói potylen màu đen chứa ma túy. Q điều khiển xe máy chở L ngồi phía sau cầm gói potylen màu đen chứa ma túy đi từ khu vực đồi thuộc bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương ra đường Quốc lộ 7A thuộc địa phận thôn 29, xã Châu Khê, huyện Con Cuông thì dừng lại. (Trên đường đi, L dùng tay sờ nắn bên ngoài gói potylen màu đen thấy bên trong có các cục, L biết đó là ma túy Heroine; đồng thời, khi ngửi thấy mùi thơm đặc trưng của ma túy dạng viên màu đỏ, L biết đó là ma túy hồng phiến). Sau khi dừng xe, Q và L nấp vào bụi cây ven đường nằm chờ, lúc này khoảng 22 giờ ngày 18/8/2022. Khoảng 20 phút sau, có một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) gọi điện thoại cho Q. Sau khi nghe điện thoại, Q nói L cầm gói potylen màu đen chứa ma túy đi ra giao cho người phụ nữ đang đứng cạnh xe ô tô màu đen cách đó khoảng 50 mét. L cầm gói potylen màu đen chứa ma túy đi đến gần xe ô tô để đưa cho người phụ nữ thì bị tổ công tác Công an huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An bắt quả tang cùng với vật chứng như đã nêu trên, còn Q và người phụ nữ mua ma túy bỏ chạy.
Kết luận giám định số 1103/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 29/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu cục chất bột màu trắng (ký hiệu M1.1) thu giữ của Lương Văn L gửi đến giám định là ma túy (Heroine). Số cục chất bột màu trắng (01 gói) thu giữ của Lương Văn L có khối lượng là 81,2 g (tám mươi mốt phẩy hai gam).17 (mười bảy) mẫu các viên nén hình tròn, màu hồng (ký hiệu từ M2.1 và M18.1) thu giữ của Lương Văn L gửi đến giám định đều là ma túy (Methamphetamine). Số viên nén hình tròn, màu hồng (17 gói) thu giữ của Lương Văn L có tổng khối lượng là 296,005 g (hai trăm chín mươi sáu phẩy không trăm linh năm gam)”.
Vật chứng của vụ án: Thu giữ 81,2 g (tám mươi mốt phẩy hai gam)ma túy (Heroine), (đã lấy 0,43gam gửi giám định, còn lại 80,77 gam); 296,005 g (hai trăm chín mươi sáu phẩy không trăm linh năm gam)ma túy (Methamphetamine), (đã lấy 4,76gam gửi giám định, còn lại 291,245 gam); 01 (một) chiếc bơm kim tiêm, đã qua sử dụng.
Tại Bản cáo trạng số 243/CT-VKS-P1 ngày 05/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn L về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sựnăm 2015: Xử phạt bị cáo Lương Văn L 20 (hai mươi) năm tùvề tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Ma tuý là vật Nhà nước cấm lưu hành nên đề nghị Toà án tuyên tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận:
Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn L không tranh luận về tội danh mà bị cáo bị truy tố và xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét,bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo chưa thu lợi bất chính, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Do đó, xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Lương Văn L đồng ý với phần bào chữa của người bào chữa về tội danh, hình phạt và không tranh luận với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về nội dung vụ án:Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn L thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với Bản kết luận giám định chất ma túy, phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận:Vào khoảng 19 giờ ngày 18/8/2022, tại bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, Lương Văn L đã nhận vận chuyển 01 (một) gói ma túy (Heroine) khối lượng 81,2 g (tám mươi mốt phẩy hai gam) và 17 (mười bảy) gói ma túy (Methamphetamine) khối lượng 296,005 g (hai trăm chín mươi sáu phẩy không trăm linh năm gam)cho một người đàn ông tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) từ bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương đến thôn 29, xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An để giao cho một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) với số tiền công là10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Đến 23 giờ ngày 18/8/2022, khi Lương Văn L đi bộ vận chuyển ma túy đến đoạn đường Quốc lộ 7A thuộc địa phận thôn 29, xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An thì bị Công an huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an xã Châu Khê, huyện Con Cuông phát hiện, bắt quả tang.
Như vậy, Lương Văn L đã có hành vi vận chuyển trái phép hai chất ma tuý gồm:81,2 g (tám mươi mốt phẩy hai gam) ma tuý Heroine và 296,005 g (hai trăm chín mươi sáu phẩy không trăm linh năm gam) ma tuý Methamphetamine, nhằm mục đích thu lợi bất chínhnên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn L về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sựnăm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây làtình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi, tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, hành vivận chuyển trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hộivì ma túy là nguồn gốc sâu xa làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luậtnhưng vì vụ lợi mà vẫn thực hiện. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minhnhư đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát,cách ly bị cáo khỏi xã hộiđể răn đe bị cáo, cũng như phòng ngừa loại tội phạm này trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lương Văn L có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm ổn định, không có tài sản, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về các nội dung khác của vụ án:
Trong vụ án này, theo lời khai của Lương Văn L người đàn ông tên T (Kha Ngọc Q) là người đã thuê L vận chuyệntrái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã triệu tập, lấy lời khai nhưng Q không thừa nhận, ngoài ra không có chứng cứ khác để chứng minh nên chưa đủ căn cứđể xử lýđối với Q. Đối với Lương Văn T, theo lời khai của L, là người có mặt khi Q thuê L vận chuyện trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã triệu tập, lấy lời khai nhưng T không thừa nhận nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với T. Đối với người phụ nữ nhận ma túy, do L không biết lai lịch, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xử lý.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án: Ma tuý là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ; 01 bơm kim tiêm là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Buộc bị cáo Lương Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1Điều 51Bộ luật hình sựnăm 2015: Xử phạt bị cáo Lương Văn L 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/8/2022. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Lương Văn L.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sựnăm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 80,77 gam ma tuý Heroine và 291,245 gamma túy Methamphetamine; 01 (một) chiếc bơm kim tiêm, đã qua sử dụng.
Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/12/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.Buộc bị cáo Lương Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Lương Văn L được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND cấp cao tại HN;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND cấp cao tại HN;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
- Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
- Cơ quan CSĐT CA tỉnh Nghệ An;
- Cục THADS tỉnh Nghệ An;
- Người tham gia tố tụng;
Phạm Hồng Trang
- UBND x. B, h. C;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH NGHỆ AN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: /2022/HS-ST
Ngày: 27 - 12 - 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trang
Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thuý Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Hường
Ông Hồ Bá Võ
Ông Trần Văn Mão
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Hoàng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 216/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Văn L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 19 tháng 7 năm 1997, tại huyện C, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản Nà Cọ, xã Bình Chuẩn, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn Núi (đã chết) và bà Lô Thị Phòng, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có; tiền án, nhân thân: Không; tiền sự: Bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 15/2019/QĐ-TA ngày 29/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Nghệ An, thời gian 24 tháng. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2022 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đinh Thị Sâm, Văn phòng Luật sư Thành Điệp và Cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Văn L là người nghiện chất ma túy nên thường xuyên đi vào khu vực đồi thuộc bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An để xin ma túy sử dụng, tại đây L gặp và quen người đàn ông tên T (tên thật là Kha Ngọc Q, sinh ngày 06/02/1993, trú tại bản Mon, thị trấn Thạch Giám, huyện Tương Dương) và người đàn ông tên Q (tên thật là Lương Văn T, sinh ngày 23/7/1995, trú tại bản Mon, thị trấn Thạch Giám, huyện Tương Dương). Q và T thường xuyên vào khu vực đồi thuộc bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương để sử dụng ma túy. Khoảng 19 giờ ngày 18/8/2022, L đi vào khu vực đồi thuộc bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương để xin ma túy sử dụng. Tại đây, L gặp Q và T, ba người cùng nhau sử dụng ma túy Heroine. Sau khi sử dụng ma túy, Q nói L đi bộ xuống đồi, cách đó khoảng 100 mét, Q lấy một ít ma túy Heroine ra cùng L tiếp tục sử dụng. Lúc này, Q đặt vấn đề thuê L đi giao ma túy cho một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở xã Châu Khê, huyện C, tỉnh Nghệ An, với số tiền công là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), L đồng ý. Q đưa cho L 01 (một) gói potylen màu đen chứa ma túy. Q điều khiển xe máy chở L ngồi phía sau cầm gói potylen màu đen chứa ma túy đi từ khu vực đồi thuộc bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương ra đường Quốc lộ 7A thuộc địa phận thôn 29, xã Châu Khê, huyện Con Cuông thì dừng lại. (Trên đường đi, L dùng tay sờ nắn bên ngoài gói potylen màu đen thấy bên trong có các cục, L biết đó là ma túy Heroine; đồng thời, khi ngửi thấy mùi thơm đặc trưng của ma túy dạng viên màu đỏ, L biết đó là ma túy hồng phiến). Sau khi dừng xe, Q và L nấp vào bụi cây ven đường nằm chờ, lúc này khoảng 22 giờ ngày 18/8/2022. Khoảng 20 phút sau, có một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) gọi điện thoại cho Q. Sau khi nghe điện thoại, Q nói L cầm gói potylen màu đen chứa ma túy đi ra giao cho người phụ nữ đang đứng cạnh xe ô tô màu đen cách đó khoảng 50 mét. L cầm gói potylen màu đen chứa ma túy đi đến gần xe ô tô để đưa cho người phụ nữ thì bị tổ công tác Công an huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an xã Châu Khê, huyện C, tỉnh Nghệ An bắt quả tang cùng với vật chứng như đã nêu trên, còn Q và người phụ nữ mua ma túy bỏ chạy.
Kết luận giám định số 1103/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 29/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu cục chất bột màu trắng (ký hiệu M1.1) thu giữ của Lương Văn L gửi đến giám định là ma túy (Heroine). Số cục chất bột màu trắng (01 gói) thu giữ của Lương Văn L có khối lượng là 81,2 g (tám mươi mốt phẩy hai gam). 17 (mười bảy) mẫu các viên nén hình tròn, màu hồng (ký hiệu từ M2.1 và M18.1) thu giữ của Lương Văn L gửi đến giám định đều là ma túy (Methamphetamine). Số viên nén hình tròn, màu hồng (17 gói) thu giữ của Lương Văn L có tổng khối lượng là 296,005 g (hai trăm chín mươi sáu phẩy không trăm linh năm gam)”.
Vật chứng của vụ án: Thu giữ 81,2 g (tám mươi mốt phẩy hai gam) ma túy (Heroine), (đã lấy 0,43 gam gửi giám định, còn lại 80,77 gam); 296,005 g (hai trăm chín mươi sáu phẩy không trăm linh năm gam) ma túy (Methamphetamine), (đã lấy 4,76 gam gửi giám định, còn lại 291,245 gam); 01 (một) chiếc bơm kim tiêm, đã qua sử dụng.
Tại Bản cáo trạng số 243/CT-VKS-P1 ngày 05/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn L về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Văn L 20 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Ma tuý là vật Nhà nước cấm lưu hành nên đề nghị Toà án tuyên tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận:
Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn L không tranh luận về tội danh mà bị cáo bị truy tố và xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo chưa thu lợi bất chính, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Do đó, xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Lương Văn L đồng ý với phần bào chữa của người bào chữa về tội danh, hình phạt và không tranh luận với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn L thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với Bản kết luận giám định chất ma túy, phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 19 giờ ngày 18/8/2022, tại bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, Lương Văn L đã nhận vận chuyển 01 (một) gói ma túy (Heroine) khối lượng 81,2 g (tám mươi mốt phẩy hai gam) và 17 (mười bảy) gói ma túy (Methamphetamine) khối lượng 296,005 g (hai trăm chín mươi sáu phẩy không trăm linh năm gam) cho một người đàn ông tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) từ bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương đến thôn 29, xã Châu Khê, huyện C, tỉnh Nghệ An để giao cho một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) với số tiền công là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Đến 23 giờ ngày 18/8/2022, khi Lương Văn L đi bộ vận chuyển ma túy đến đoạn đường Quốc lộ 7A thuộc địa phận thôn 29, xã Châu Khê, huyện C, tỉnh Nghệ An thì bị Công an huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an xã Châu Khê, huyện Con Cuông phát hiện, bắt quả tang.
Như vậy, Lương Văn L đã có hành vi vận chuyển trái phép hai chất ma tuý gồm: 81,2 g (tám mươi mốt phẩy hai gam) ma tuý Heroine và 296,005 g (hai trăm chín mươi sáu phẩy không trăm linh năm gam) ma tuý Methamphetamine, nhằm mục đích thu lợi bất chính, hành vi đó đã phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn L về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi, tính chất vụ án: Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là nguồn gốc sâu xa làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi mà vẫn thực hiện. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, cách ly bị cáo khỏi xã hội để răn đe bị cáo, cũng như phòng ngừa loại tội phạm này trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lương Văn L có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm ổn định, không có tài sản, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về các nội dung khác của vụ án:
Trong vụ án này, theo lời khai của Lương Văn L người đàn ông tên T (Kha Ngọc Q) là người đã thuê L vận chuyện trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã triệu tập, lấy lời khai nhưng Q không thừa nhận, ngoài ra không có chứng cứ khác để chứng minh nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Q. Đối với Lương Văn T, theo lời khai của L, là người có mặt khi Q thuê L vận chuyện trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã triệu tập, lấy lời khai nhưng T không thừa nhận nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với T. Đối với người phụ nữ nhận ma túy, do L không biết lai lịch, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xử lý.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án: Ma tuý là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ; 01 bơm kim tiêm là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Buộc bị cáo Lương Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Văn L 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/8/2022. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Lương Văn L.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 80,77 gam ma tuý Heroine và 291,245 gam ma túy Methamphetamine; 01 (một) chiếc bơm kim tiêm, đã qua sử dụng.
Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/12/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lương Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Lương Văn L được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại HN; - TAND cấp cao tại HN; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - Người tham gia tố tụng; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - UBND x. Bình Chuẩn, h. Con Cuông; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Trang |