- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo C H L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo C H L 18 (Mười tám) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TX THÀNH PHỐ HN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 192/2022/HS-ST Ngày: 27 tháng 10 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TX, THÀNH PHỐ HN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Bà H T T
Các Hội thẩm nhân dân
Ông N Q Đ
Bà L T M T
Thư ký ghi biên bản phiên tòa
Ông V T T
Thư ký Tòa án nhân dân quận TX – Thành phố HN.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận TX tham gia phiên tòa:
Bà D T H – Kiểm sát viên.
Ngày 27/10/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố HN, Toà án nhân dân quận TX tiến hành xét công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 171/2022/HSST ngày 03/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 361/2022/QĐXXST-HS ngày 14/10/2022 đối với các bị cáo có lý lịch như sau:
1. Họ và tên: C H L, sinh ngày 1980
HKTT: Số 61 NT, phường KT, quận TX, HN; Nơi ở hiện tại: Số 29D, BXT, phường KĐ, quận TX, HN; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: C Đ L (đã mất); Con bà: P T N; Vợ: V T H; Con: có 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014); Tiền sự, tiền sự: Không;
Nhân thân:
+ Bản án số 480 ngày 13/12/1996 Tòa án nhân dân quận ĐĐ, HN xử phạt 20 tháng tù về tội Cướp tài sản, phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi (đã xóa án tích).
+ Bản án số 95 ngày 08/7/1998 Tòa án nhân dân quận TX, HN xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (đã xóa án tích).
+ Bản án số 70 ngày 13/9/2000 Tòa án nhân dân quận TX, HN xử phạt 30 tháng từ về tội trộm cắp tài sản (đã xóa án tích).
+ Bản án số 113 ngày 12/6/2003 Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, HN xử phạt 26 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (đã xóa án tích).
+ Bản án số 67 ngày 09/3/2012 Tòa án nhân dân quận ĐĐ, HN xử phạt 28 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích).
+ Bản án số 131 ngày 24/9/2015 Tòa án nhân dân quận TX, HN xử phạt 4 năm 6 tháng tù về tội cướp giật tài sản, ra trại ngày 27/3/2019 (đã xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ ngày 24/6/2022, tạm giam ngày 30/6/2022. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại giam số 2 Công an thành phố HN. (Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: T T T, sinh ngày 21/11/1992
HKTT: Thôn 7, Xã TT, LN, HN; Nơi ở hiện tại: Số 227 VTP, phường KT, quận TX, HN; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: T T B; Con bà: T T H; Vợ: N H N; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khởi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại:
1. Bà V T M A, sinh năm 1969; Địa chỉ: P101, nhà D2B, Ngõ 30 LĐC, PM, ĐĐ, HN (vắng mặt)
2. Chị N T M A, sinh năm 2001; Địa chỉ: TN, TL, HN (vắng mặt)
3. Chị H Q T, sinh năm 2001; Địa chỉ: Số 15, ngách 44/58, tổ 20, phường TT, LB, HN (vắng mặt).
4. Chị V X T, sinh năm 2001; Địa chỉ: LT, thị trấn H, TT, BN (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 ngày 24/6/2022, tổ công tác Công an phường KM, quận TX, HN làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện C H L điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Vinfast màu đỏ đen không có BKS tại trước số 03 LTT, phường KM, quận TX, HN có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra L khai nhận chiếc xe máy điện đang điều khiển là tài sản trộm cắp tại trước cầu thang C11 Tập thể KL, ĐĐ, HN ngày 9/6/2022 và khai nhận do nghiện ma túy và không có nghề nghiệp nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là xe đạp điện, xe máy điện để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, từ ngày 9/6/2022 đến ngày 24/6/2022, L đã trộm cắp 5 chiếc xe đạp điện, xe máy điện, cụ thể như sau:
- Vụ thứ 1: Chiều ngày 09/6/2022 L đi bộ qua khu tập thể KL, phường KL, quận ĐĐ, HN phát hiện 01 xe máy điện Vinfast Impes màu đỏ đen; SK: RPXM3LHLVLE039099; SM: RBNBFBJBD204230871 không đeo BKS, để trước cầu thang C11 tập thể KL, phường KL, ĐĐ, HN của chị V T M A (sinh năm: 1969, HKTT: P101 nhà D2B ngõ 30 LĐC, PM, ĐĐ, HN ) không có người trông giữ nên L đã trộm cắp để sử dụng. Chiếc xe trên chị M A giao cho cháu H M T (sinh năm 2007) sử dụng, xe chưa đăng ký. Tại bản kết luận định giá tài sản số 126/29.6.2022 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận TX kết luận chiếc xe trên trị giá 4.000.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an quận TX đã trả chiếc xe trên cho chị M A, chị M A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
- Vụ thứ 2: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/6/2022, L đi bộ quanh khu vực tòa nhà Artemis, Số 3 LTT, phường KM, TX, HN tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp thì phát hiện 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Before All màu đỏ đen SK: 296353133142925; SM: BFM48V250W14072999, không đeo BKS của chị H Q T (SN: 2001; Nơi thường trú: số 15 ngách 44/58 tổ 20, phường TT, LB, HN) dựng phía trước tòa nhà, không có người trông giữ. L tiến lại gần dắt chiếc xe rồi ngồi lên xe và dùng chân đẩy xe đi về phía đường NT . L đẩy xe đến cửa hàng sửa chữa, mua bán xe của T T T tại số 227 VTP, KT, TX, HN. L nhờ T sửa giúp chiếc xe nhưng sau khi kiểm tra xe, T thông báo cho L chiếc xe trên không sửa được thì L nói đây là xe của L và muốn bán lại cho T. T đồng ý mua lại chiếc xe trên với giá 800.000 đồng. Theo kết quả định giá tài sản, chiếc xe trị giá 2.000.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an quận TX đã trả chiếc xe cho chị T, chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
- Vụ thứ 3: Khoảng 17h30’ ngày 22/6/2022, L đi bộ quanh khu vực đường LTT, phường KM, TX, HN tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến sảnh trước tòa nhà Artemis Số 3 LTT, phường KM, TX, HN, L phát hiện 01 xe máy điện nhãn hiệu Momentum 133s màu đỏ đen SK: EBK009201; SM: 48V450W1214001942, không đeo BKS của chị N T M A (SN: 2001; ĐKTT: xã TN, TL, HN) dựng trước tòa nhà để vào siêu thị mua đồ, không có người trông giữ. L đã trộm cắp chiếc xe trên của chị A và mang đến bán cho T. L nói với T “xe này do tôi trộm cắp được, anh mua được bao nhiêu thì mua”. Biết là xe do L trộm cắp mà có nhưng T vẫn đồng ý mua chiếc xe trên với giá 1.000.000đồng. Sau khi bị mất xe, chị A đến Công an phường KM, quận TX trình báo sự việc. Theo kết quả định giá tài sản, chiếc xe trị giá 2.000.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an quận TX đã trả chiếc xe cho chị A, chị A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
- Vụ thứ 4: Khoảng 19 giờ ngày 22/6/2022, L tiếp tục đi bộ quanh khu vực tòa nhà Artemis số 3 LTT, phường KM, TX, HN, L tìm tài sản sơ hở để trộm cắp thì phát hiện 01 xe máy điện nhãn hiệu Espero 133Hi2 màu trắng SK: RPEYDDHPEHA272409; SM: RPEYD700W272409, không đeo BKS của chị V X T (SN: 2001; ĐKTT: thị trấn H, TT, BN) dựng trước tòa nhà để vào siêu thị mua đồ, không có người trông giữ. L đã trộm cắp chiếc xe trên của chị T và mang đến bán cho T. L nói với T xe này do L trộm cắp mà có nhưng T vẫn đồng ý mua chiếc xe trên với giá 800.000 đồng. Theo kết quả định giá tài sản, chiếc xe trị giá 2.000.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an quận TX đã trả chiếc xe cho chị T, chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
- Vụ thứ 5: Cùng với thủ đoạn trên, khoảng 18h15’ ngày 23/6/2022, L trộm cắp 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Espero Speed màu cam-đen, không đeo BKS dựng trước sảnh tòa nhà Artemis số 3 LTT, phường KM, TX, HN và mang đến bán cho T. Biết chiếc xe này do L trộm cắp mà có nhưng T vẫn đồng ý mua với giá 800.000đồng. Chiếc xe này hiện không xác định được bị hại. Theo kết quả định giá tài sản, chiếc xe trị giá 1.800.000 đồng.
Tổng số tiền mà L bán 04 chiếc xe trộm cắp cho T là 3.400.000 đồng, L đã tiêu xài và sử dụng hết 2.590.000 đồng, còn lại 810.000 đồng L giao nộp cho Cơ quan công an.
Tại Cơ quan điều tra, T T T khai đã mua của C H L 4 chiếc xe (gồm 3 xe máy điện và 1 xe đạp điện) như đã nêu trên. Ngày 18/6/2022 khi mua của L 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Before All màu đỏ đen SK: 296353133142925; SM: BFM48V250W14072999, không đeo BKS, L nói là xe của L, T không biết do L trộm cắp mà có. Đối với 01 xe máy điện nhãn hiệu Momentum 133s màu đỏ đen SK: EBK009201; SM: 48V450W1214001942, không đeo BKS, 01 xe máy điện nhãn hiệu Espero 133Hi2 màu trắng SK: RPEYDDHPEHA272409; SM: RPEYD700W272409, không đeo BKS và 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Espero Speed màu cam-đen, không đeo BKS T mua của L các ngày 22,23/6/2022, T biết là xe do L trộm cắp mà có nhưng vì ham rẻ nên T vẫn mua, mục đích để sửa lại và bán kiếm lời.
Cơ quan công an thu giữ của C H L: 01 xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Impes màu đỏ đen; SK: RPXM3LHLVLE039099; SM: RBNBFBJBD204230871 không đeo BKS, đã qua sử dụng; 01 điện thoại Nokia-210 màu đỏ, Imei 1: 352879102075885; Imei 2: 352879102575884, lắp sim có số serial: 89840-20001-08933-36446, đã qua sử dụng và 810.000đồng.
Thu giữ của T T T: 01 xe máy điện nhãn hiệu Before All màu đỏ đen SK: 296353133142925; SM: BFM48V250W14072999, không đeo BKS, đã qua sử dụng; 01 xe máy điện nhãn hiệu Momentium 133S màu đỏ đen SK: EBK009201; SM: 48V450W1214001942, không đeo BKS, đã qua sử dụng; 01 xe máy điện nhãn hiệu Espero 133Hi2 màu trắng SK: RPEYDDHPEHA272409; SM: RPEYD700W272409, không đeo BKS, đã qua sử dụng; 01 xe đạp điện nhãn hiệu Espero Speed màu cam đen SK: RPETCB9PEDA*008678; SM: 48V240W140406858, không đeo BKS, đã qua sử dụng.
Đối với 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Espero Speed màu cam-đen, không đeo BKS, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên không đăng ký chủ sở hữu trên hệ thống dữ liệu đăng ký sở hữu phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, cơ quan điều tra đã tiến hành đăng 03 số báo tại Báo an ninh thủ đô để tìm người liên quan đến chiếc xe trên nhưng đến nay vẫn chưa xác định được ai là chủ sở hữu.
Cáo trạng số 173/CT-VKS ngày 15/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận TX đã truy tố bị cáo C H L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Bị cáo T T T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo L thừa nhận việc bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo T thừa nhận bị truy tố về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi được nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội. Bị cáo T đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội sữa chữa sai lầm khuyết điểm của mình.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo C H L từ 20 đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s, h khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T T T từ 12 đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 24 đến 28 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Các bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền.
- Về trách nhiệm dân sự:
Đối với các bị hại là bà V T M A, chị H Q T, chị N T M A, chị V X T đã nhận lại tài sản do Cơ quan điều tra trao trả và không có yêu cầu bị cáo L phải bồi thường nên không xét.
- Về xử lý vật chứng
+ Đối với chiếc 01 xe đạp điện nhãn hiệu Espero Speed màu cam đen SK: RPETCB9PEDA*008678; SM: 48V240W140406858, không đeo BKS, đã qua sử dụng thu giữ của C H L, tiếp tục đăng báo trong thời hạn 01 năm nếu không xác định được ai là bị hại sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
+ Đối với 01 điện thoại Nokia -210 màu đỏ, số Imei 1: 352879102075885; Imei 2: 352879102575884, lắp sim có số serial: 89840-20001-08933-36446, đã qua sử dụng đây là tài sản cá nhân của L, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo L.
+ Đối với số tiền 810.000đồng thu giữ của bị cáo, đây là số tiền do bị cáo bán các xe đạp trộm cắp cho bị cáo T nên xác định là tài sản phạm tội mà có cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
+ Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 2.590.000đồng do hành vi phạm tội mà có để sung ngân sách nhà nước.
Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt tiền, bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.
Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận TX, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận TX trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa các bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người bị hại, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Từ ngày 09/6/2022 đến ngày 24/6/2022, C H L đã trộm cắp 4 chiếc xe máy điện và 1 chiếc xe đạp điện, cụ thể như sau:
Trộm cắp 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Impes màu đỏ đen, số khung: RPXM3LHLVLE039099, số máy: RBNBFBJBD204230871, không đeo BKS của chị V T M A tại cầu tháng C11 Tập thể KL, phường KL, ĐĐ, HN, trị giá 4.000.000đồng; Trộm cắp tại khu vực trước sảnh tòa nhà Artemis số 3 LTT, phường KM, TX, HN 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu Before All màu đỏ đen, số khung 296353133142928, số máy: BFM48V250W14072999, không đeo BKS của chị H Q T trị giá 2.000.000 đồng; 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu Momentum 133s màu đỏ đen, số khung: EBK009201, số máy 48V450W1214001942, không đeo BKS của chị N T M A trị giá 2.000.000 đồng; 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu Espero133Hi2 màu trắng, số khung: RPEYDDHPEHA272409, số máy: RPEYD700W272409, không đeo BKS của chị V X T trị giá 2.000.000đồng và 01 (một) chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Espero Speed màu cam đen, số khung: RPETCB9PEDE*008678, số máy: 48V240RI48406858, không đeo BKS, hiện chưa xác định được chủ sở hữu trị giá 1.800.000đồng. Tổng giá trị tài sản C H L trộm cắp là 11.800.000đồng.
Ngày 22, 23 tháng 6 năm 2022, T T T có hành vi tiêu thụ tài sản do C H L trộm cắp mà có gồm: 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu Momentum 133s màu đỏ đen, số khung: EBK009201, số máy 48V450W1214001942, không đeo BKS, trị giá 2.000.000 đồng; 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu Espero133Hi2 màu trắng, số khung: RPEYDDHPEHA272409, số máy: RPEYD700W272409, không đeo BKS, trị giá 2.000.000đồng và 01 (một) chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Espero Speed màu cam đen, số khung: RPETCB9PEDE*008678, số máy: 48V240RI48406858, không đeo BKS, trị giá 1.800.000 đồng . Tổng giá trị các tài sản T tiêu thụ là 5.800.000 đồng.
Do vậy, hành vi của bị cáo C H L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo T T T đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận TX truy tố các bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét thấy, các bị cáo đều là người trưởng thành có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng đều thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo L đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, nhân thân bị cáo có 06 tiền án mặc dù đã được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, tu dưỡng bản thân mà vẫn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, điều này thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật nên cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội. Đối với bị cáo T lần đầu khi mua xe của bị cáo L, T không biết là tài sản do bị cáo L trộm cắp, nhưng lần sau T biết tài sản do bị cáo L trộm cắp nhưng do tham lam tư lợi nên đã thực hiện hành vi tiêu thụ nhằm kiếm lời.
Về nhân thân các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Đối với bị cáo C H L: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 05 lần trộm cắp đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52.
- Đối với bị cáo T T T: Mặc dù biết xe bị cáo L bán do trộm cắp mà có nhưng do tham lam tư lợi nên vẫn tiêu thụ, tuy nhiên khi bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện bàn giao toàn bộ những tài sản tiêu thụ cho Cơ quan điều tra để trao trả cho các bị hại. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn; Tài sản tiêu thụ đã được thu hồi và trao trả cho các bị hại; Bị cáo có nhân thân tốt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s, h khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự tuy nhiên các lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hiện bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng, quá trình sinh sống tại địa phương xác nhận chưa vi phạm pháp luật, nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dụng đối với bị cáo và cũng không gây nguy hại cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
Đối với các bị hại là bà V T M A, chị H Q T, chị N T M A, chị V X T đã nhận lại tài sản do Cơ quan điều tra trao trả và không có yêu cầu bị cáo L phải bồi thường, ngoài ra không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại Nokia -210 màu đỏ, số Imei 1: 352879102075885; Imei 2: 352879102575884, lắp sim có số serial: 89840-20001-08933-36446, đã qua sử dụng đây là tài sản cá nhân của L, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo L.
- Đối với số tiền 810.000đồng thu giữ của bị cáo L, đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 2.590.000đồng do bị cáo L bán xe trộm cắp cho bị cáo T nhưng đã tiêu xài cá nhân hết, xác định đây là số tiền do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo L phải nộp lại số tiền này để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với chiếc 01 xe đạp điện nhãn hiệu Espero Speed màu cam đen SK: RPETCB9PEDA*008678; SM: 48V240W140406858, không đeo BKS, đã qua sử dụng thu giữ của C H L hiện chưa xác định được ai là bị hại, chủ sở hữu hợp pháp. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe trên nhưng chưa xác định được, vì vậy cần tiếp tục đăng trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu chiếc xe máy trên. Sau một năm kể từ ngày đăng tin đầu tiên 10/8/2022 nếu không xác định được bị hại là chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo C H L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo C H L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2022.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo T T T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Xử phạt bị cáo T T T 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 20 (Hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo T T T cho UBND xã TT, huyện LN, tỉnh HN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã TT trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 810.000đồng thu giữ của bị cáo C H L, theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/6/2022.
- Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lời bất chính 2.590.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo C H L 01 điện thoại Nokia -210 màu đỏ, số Imei 1: 352879102075885; Imei 2: 352879102575884, lắp sim có số serial: 89840-20001-08933-36446, đã qua sử dụng.
- Tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Espero Speed màu cam đen SK: RPETCB9PEDA*008678; SM: 48V240W140406858, không đeo BKS, đã qua sử dụng. Sau 01 năm kể từ ngày đăng tin đầu tiên 10/8/2022, nếu không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận TX, thành phố HN theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2022.
4. Án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án đươc tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND thành phố HN; - VKSND quận TX; - Công an quận TX; - Chi cục THADS quận TX; - Bị cáo; - Lưu HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA H T T |