vanban.org

Bản án 192/2022/HNGGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh R đối với bà Huỳnh Minh Tr về việc “thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Bà Tr được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Phan Vỹ Kh, sinh ngày 14/11/2020. Ông R không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà Tr không có yêu cầu. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thanh R "ly hôn" Huỳnh Minh Tr"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh R đối với bà Huỳnh Minh Tr về việc “thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 192/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 7 - 2022.
V/v tranh chấp “thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông La Văn Việt,

2. Bà Trương Thị Kim Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.

Ngày 14 và ngày 19 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 459/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Phan Thanh R , sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu: Hẻm 266 NH, Khu vực 6, Phường 4, thành phố VT, tỉnh Hậu Giang; tạm trú: Ấp Mới 2, xã MHN, huyện Đ, Long An. (có mặt)

2. Bị đơn: Huỳnh Minh Tr , sinh năm 1994; địa chỉ: Số 248, ấp RD, xã MHB, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 28 tháng 4 năm 2022, lời trình bày tiếp theo nguyên đơn ông Phan Thanh R trình bày: Ông và bà Tr cưới nhau năm từ 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã MHB, huyện Đ, tỉnh Long An. Đến ngày 10/01/2022, vợ chồng ông ly hôn, theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 19/2022/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa. Theo nội dung quyết định thì bà Tr được quyền nuôi con chung Phan Vỹ Kh , sinh ngày 14/11/2020, hiện con chung đang sống với bà Tr .

Tuy nhiên sau khi ly hôn, ông nhiều lần đến thăm con và rước con về bên nội chơi nhưng gia đình bà Tr cũng như bà Tr ngăn cản, không cho ông thăm con, rước con nên phát sinh tranh chấp. Nay, ông yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà Tr giao con chung Phan Vỹ Kh , sinh ngày 14/11/2020 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng. Ông không yêu cầu bà Tr cấp dưỡng nuôi con chung. Ngoài ra, ông không còn yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Huỳnh Minh Tr trình bày tại bản tự khai ngày 04 tháng 6 năm 2022, trình bày tiếp theo và tại phiên tòa: Bà thống nhất như lời trình bày của ông R về thời gian kết hôn cũng như việc ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 19/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ. Theo nội dung quyết định, Tòa án giao con chung Phan Vỹ Kh , sinh ngày 14/11/2020 cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Đồng thời, ông R được quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung. Tuy nhiên sau khi ly hôn, mặc dù bà Tr không yêu cầu ông R cấp dưỡng nhưng với trách nhiệm một người cha, ông R không chia sẽ về kinh tế để cùng bà chăm lo cho con.

Từ ngày ly hôn đến nay, ông R chỉ duy nhất một lần đến thăm con khi bà Tr và con chung đang ở nhà cậu, ở tỉnh Tây Ninh. Từ đó đến nay, ông R cũng có sang thăm con nhưng thường không báo trước cho bà Tr biết, lúc say rượu và thường vào buổi tối nên bà Tr không đồng ý. Nay ông R có yêu cầu Tòa án buộc bà Tr giao con chung Phan Vỹ Kh , sinh ngày 14/11/2020 cho ông R nuôi dưỡng thì bà Tr không đồng ý. Hiện nay, bà Tr đã về huyện Đức Hòa làm việc và sinh sống tại nhà mẹ ruột của bà Tr nên có điều kiện chăm sóc con tốt hơn. Ngoài ra, theo bà Tr được biết thì hiện nay ông R đang ở trọ tại xã MHN nên không có điều kiện chăm sóc con, nếu Tòa án giao con cho ông R nuôi dưỡng thì ông R sẽ gửi con về quê, bà Tr mong Tòa xem xét không chấp nhận yêu cầu của ông Rô.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

. Ông R khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Bà Tr hiện đang sinh sống tại huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có mặt, Tòa án tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử.

. Về nội dung:

. Về yêu cầu khởi kiện: Ông R cho rằng từ ngày 10/01/2022, ngày vợ chồng ông ly hôn, theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 19/2022/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thì ông R có đến thăm con ba lần nhưng bà Tr không cho ông R thăm con. Bà Tr thì cho rằng ông R chỉ duy nhất một lần đến thăm con khi bà Tr và con chung đang ở nhà cậu, ở tỉnh Tây Ninh. Từ đó đến nay, ông R cũng có sang thăm con nhưng thường không báo trước cho bà Tr biết, lúc say rượu và thường vào buổi tối nên bà Tr không đồng ý. Xét thấy, ông R có cung cấp clip thứ nhất thể hiện ông R có đến thăm con ở tỉnh Tây Ninh. Bà Tr có lời nói thể hiện không tôn trọng Quyết định của Tòa án, không cho ông R thăm con là vi phạm khoản 1 Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Clip thứ hai vào buổi tối, hình ảnh và âm thanh không rõ. Lần thứ ba, ông R đến thăm con, nhà bà Tr đóng cửa. Ông R không thông báo cho bà Tr biết việc ông R đến thăm con. Ông R cho rằng, hiện tại ông R đang làm tài xế xe hợp đồng, đang ở nhà trọ. Nếu Tòa án giao con chung cho ông R nuôi thì ông R bán đất ở quê, đưa mẹ ông R lên Đức Hòa mua đất, xây nhà sinh sống. Hiện nay, bà Tr sinh sống chung nhà với mẹ bà Tr . Ban ngày, bà Tr đi làm. Mẹ bà Tr trông con dùm bà Tr . Con chung Phan Vỹ Kh , sinh ngày 14/11/2020, vẫn phát triển tốt, không bệnh tật. Bà Tr và mẹ bà Tr không ngược đãi cháu Khang. Tại phiên tòa, bà Tr cam kết, cuối tuần sẽ tạo điều kiện cho ông R đến thăm con chung. Lúc ông R đến thăm con ở tỉnh Tây Ninh, bà Tr thấy ông R đi cùng một người đàn ông và có quay phim nên bà Tr sợ ông R bắt con chung đi luôn nên bà Tr không cho thăm con.

Từ những nhận định trên xét thấy về điều kiện nuôi con của bà Tr tốt hơn ông Rô. Bà Tr có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Con chung tên Phan Vỹ Kh , sinh ngày 14/11/2020 dưới 36 tháng tuổi, để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu Kh nên căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần giao cháu Kh cho bà Tr tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, do đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Rô.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Tr không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Ông R phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh R đối với bà Huỳnh Minh Tr về việc “thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Bà Tr được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Phan Vỹ Kh, sinh ngày 14/11/2020. Ông R không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà Tr không có yêu cầu.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Ông R phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006585 ngày 18/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Long An để thi hành. Ông R đã nộp đủ.

Án xử sơ thẩm, công khai, nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- TAND tỉnh Long An;

- VKSND huyện Đ;

- UBND xã MHB;

- Chi cục THADS huyện Đ;

- Lưu hồ sơ.

Trần Hồng Sơn THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:

Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:

(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).

(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).

(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.

(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).

(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).

(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.

(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.

(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.

(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).

(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).

(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.

(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.

Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi).

Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).

(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.

(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).

(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).

(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).

(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).

(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.

(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].

(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.

(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ