vanban.org

Bản án 192/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa Chị Hoàng Thị Thu H và anh Nguyễn Văn D.

Chị Hoàng Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) Chị Hoàng Thị Thu H đã nộp tại biên lai số 0005288 ngày 24-5-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Chị Hoàng Thị Thu H … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị H và anh D"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa Chị Hoàng Thị Thu H và anh Nguyễn Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 04-7-2022
Về tranh chấp: Ly hôn, con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Quang Bảo

Bà Trịnh Thị Kim Cúc

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Kiên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Vào ngày 22 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 139/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1991; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường D, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Đường D, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1991; số chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx; đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện nộp ngày 24-5-2022, bản tự khai ngày 06-6-2022 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Hoàng Thị Thu H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn D tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào ngày 21-3-2017, có thời gian tìm hiểu nhau trước khoảng 05 năm. Hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trường Thi, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định vào ngày 13-02-2017.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn D, địa chỉ: Đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Sau khi chung sống được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh Nguyễn Văn D thường xuyên đi làm về muộn, không quan tâm tới cuộc sống gia đình. Đến khoảng tháng 9-2019 thì chị sinh con và chuyển về nhà bố mẹ đẻ của chị, sống ly thân với anh Nguyễn Văn D kể từ thời điểm đó cho đến nay. Kể từ thời điểm năm 2019, anh Nguyễn Văn D bắt đầu dính vào nhiều khoản nợ mà chị không hề biết, anh Nguyễn Văn D cũng chưa từng chia sẻ với chị về việc vay nợ ngoài xã hội, đã có nhiều người lạ gọi điện và tìm gặp chị để hỏi thông tin về việc anh D đang ở đâu. Cũng cùng thời gian này, chị và gia đình bị mất liên lạc với anh Nguyễn Văn D mặc dù đã tìm mọi biện pháp tìm kiếm anh Nguyễn Văn D. Chị chỉ biết sự việc của anh Nguyễn Văn D sau khi được các đồng chí cán bộ Cảnh sát kinh tế mời chị lên để lấy lời khai và thông báo về việc cơ quan Công anh tỉnh Nam Định nhận được đơn tố giác liên quan đến anh Nguyễn Văn D. Sau đó, anh Nguyễn Văn D bị bắt tạm giam từ ngày 23-01-2021 và đã bị xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định về tội danh "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" với mức hình phạt là 10 năm tù. Hiện tại, anh Nguyễn Văn D đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định. Chị H cho rằng mâu thuẫn giữa chị và anh Nguyễn Văn D không còn khả năng khắc phục được nữa và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho chị và anh Nguyễn Văn D.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là con gái, tên là: Nguyễn Hoàng Thảo N - sinh ngày 02 tháng 3 năm 2019. Hiện tại, cháu Nguyễn Hoàng Thảo N đang ở cùng với chị. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi con chung là Nguyễn Hoàng Thảo N, không yêu cầu anh Nguyễn Văn D phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Hoàng Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Tại bản tự khai ngày 14-6-2022, bị đơn là anh Nguyễn Văn D trình bày:

Anh và chị Hoàng Thị Thu H tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào ngày 21-3-2017, có thời gian tìm hiểu nhau trước khoảng 05 năm. Hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trường Thi, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định vào ngày 13-02-2017.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của anh tại địa chỉ: Đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì, đôi khi chỉ có xích mích nhỏ trong cuộc sống. Sau khi chị H sinh con vào khoảng tháng 3-2019 thì tình trạng vợ chồng mâu thuẫn nặng nề, nguyên nhân là do việc làm ăn của anh sa sút, bản thân anh không còn quan tâm tới gia đình. Từ khi sinh con cho đến nay thì chị H và con ở nhà bố mẹ đẻ của chị H, sống ly thân với anh. Đến khoảng tháng 9/2019 thì anh vi phạm pháp luật, sau đó bỏ trốn đến ngày 23-01-2021 thì anh bị bắt và bị đưa ra xét xử về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", mức hình phạt là 10 năm tù, hiện tại anh đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định. Anh Nguyễn Văn D xác định tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng khắc phục và đồng ý ly hôn với chị Hoàng Thị Thu H.

Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là con gái, tên là: Nguyễn Hoàng Thảo N - sinh ngày 02 tháng 3 năm 2019. Hiện tại, cháu Nguyễn Hoàng Thảo N đang ở cùng với mẹ là chị Hoàng Thị Thu H. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng đồng ý cho chị Hoàng Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng anh sẽ tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Anh Nguyễn Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

1.1. Về tranh chấp được giải quyết trong vụ án:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Hoàng Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Văn D, yêu cầu giải quyết về việc nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Bị đơn là anh Nguyễn Văn D không có yêu cầu phản tố. Do vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là ly hôn.

1.2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn là anh Nguyễn Văn D có đăng ký thường trú tại địa chỉ: Đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định. Vì vậy căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

1.3. Về sự có mặt của các đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn là chị Hoàng Thị Thu H và bị đơn là anh Nguyễn Văn D đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp trong vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Hoàng Thị Thu H và anh Nguyễn Văn D có thời gian tìm hiểu nhau trước, sau đó đã tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào ngày 21-3-2017. Hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trường Thi, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định vào ngày 13-02-2017. Như vậy hôn nhân giữa chị H và anh D là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H và anh D chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của anh D. Cuộc sống vợ chồng ban đầu không xảy ra mâu thuẫn gì lớn, tuy nhiên do việc làm ăn của anh D ngày càng sa sút nên vợ chồng dẫn đến nhiều mâu thuẫn. Chị H sau khi sinh con đã ở nhà bố mẹ đẻ và sống ly thân với anh D từ năm 2019 cho đến nay, bản thân anh D không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm chăm sóc mẹ con chị. Hiện tại cả chị H và anh D đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, Hội đồng xét xử thấy rằng do anh D đang bị tạm giam nên cuộc sống chung của chị H và anh D không còn trên thực tế, tình trạng hôn nhân của vợ chồng ngày càng trầm trọng và không có khả năng khắc phục, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị Thu H và anh Nguyễn Văn D.

2.2. Về con chung:

Chị Hoàng Thị Thu H và anh Nguyễn Văn D có 01 con chung là con gái, tên là: Nguyễn Hoàng Thảo N - sinh ngày 02 tháng 3 năm 2019. Xét thấy, hiện tại chị Hoàng Thị Thu H đang trực tiếp nuôi con chung, anh Nguyễn Văn D đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định, vì vậy Hội đồng xét xử sẽ giao cho chị Hoàng Thị Thu H tiếp tục nuôi con chung là Nguyễn Hoàng Thảo N sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Xét thấy chị Hoàng Thị Thu H và anh Nguyễn Văn D không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ không xem xét.

2.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:

Chị Hoàng Thị Thu H và anh Nguyễn Văn D đều không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định như sau:

Chị Hoàng Thị Thu H là nguyên đơn trong vụ án nên phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm Chị H đã nộp khi khởi kiện sẽ được khấu trừ vào án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

1. Xử ly hôn giữa Chị Hoàng Thị Thu H và anh Nguyễn Văn D.

2. Án phí:

Chị Hoàng Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) Chị Hoàng Thị Thu H đã nộp tại biên lai số 0005288 ngày 24-5-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Chị Hoàng Thị Thu H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Chị Hoàng Thị Thu H và anh Nguyễn Văn D có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ