vanban.org

Bản án 192/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tú L, chị Nguyễn Thị H.

gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: [1] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Tú L và chị Nguyễn Thị H được ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Tú L và chị Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tú L, chị Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2019/HNGĐ-ST
Ngày 18/12/2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quốc Văn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Lệ Hoa

2. Ông Nguyễn Văn Chính

- Thư ký phiên tòa: Bà H Phạm Lan Chi là Thư ký Tòa án của Toà án nhân

dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia

phiên tòa: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2019/TLST – HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tú L (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp 2, xã T, Thới Bình, Cà Mau.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã T, Thới Bình, Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 5 năm 2019 và trong quá trình giải quyết

vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Tú L trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký

kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 16/6/2008. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Anh và chị H đã ly thân từ năm 2011 đến nay. Anh L xét thấy không thể tiếp tục chung sống với chị H được nữa nên anh yêu cầu được ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh và chị H có một người con chung là Nguyễn Thiện L1,

sinh ngày 30/01/2010 hiện anh L đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L1, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên

họp cho chị Nguyễn Thị H nhưng chị không có ý kiến.

Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình

phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật; về nội dung vụ án thì các yêu cầu của anh L về hôn nhân; về con chung là có cơ sở chấp nhận; về cấp dưỡng nuôi con anh L không yêu cầu nên không xem xét; về tài sản, nợ chung: Không có, các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc anh L yêu cầu ly hôn với chị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

Anh L và chị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa dân sự

sơ thẩm lần thứ 2 anh L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn chị H vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Anh L và chị H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký

kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình chung sống do không tôn trọng nhau dẫn đến vợ chồng phát mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2011 đến nay, gia đình hai bên có hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Điều đó, cho thấy hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét về tình trạng hôn nhân và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận yêu cầu của anh L được ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét

thấy, cháu L1 đang chung sống ổn định và có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với anh L, chị H không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của anh L, giao cháu L1 cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh L không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Chị H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tài sản chung, nợ chung: Không có, các đương sự không yêu cầu nên

không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh L phải chịu số tiền là 300.000

đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do anh L đã nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến

hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tú L, chị Nguyễn Thị H.

Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và

gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

[1] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Tú L và chị Nguyễn Thị H được ly hôn.

[2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thiện L1, sinh ngày 30/01/2010 cho

anh L tiếp tục nuôi dưỡng. Chị H không cấp dưỡng nuôi con. Chị H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh L phải chịu 300.000 đồng

(ba trăm nghìn đồng). Ngày 15/5/2019 anh L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006150 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Anh L và chị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày

được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ