vanban.org

Bản án 192/2018/DSST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Thị Thu V về yêu cầu ông Phạm Thanh Q ngừng thi công và di dời công trình.

Về án phí: Bà Võ Thị Thu V phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn đã nộp 300.000(ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 35193 ngày 21-4-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Yêu cầu ngừng thi công di dời công trình"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Thị Thu V về yêu cầu ông Phạm Thanh Q ngừng thi công và di dời công trình.
  • Căn cứ chính? Điều 177 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2018/DS-ST
Ngày: 27-6-2018
V/v tranh chấp “Yêu cầu
ngừng thi công và di dời
công trình”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nam và ông Nguyễn Hoa Kiều

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên toà: Bà Lý Nguyễn Huyền Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2017/TLST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp “Yêu cầu ngừng thi công và di dời công trình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2018/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Võ Thị Thu V- Chủ cơ sở chăn nuôi động vật;

Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1974; (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Phạm Thanh Q- Chủ hộ kinh doanh Lò giết mổ gia súc; (có mặt)

Địa chỉ: Thửa đất 1795 ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Đoàn Thị P, sinh năm 1974; (có đơn xin vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp A, xã Đ, TP M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

+ Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Võ Thị Thu V trình bày: Cơ sở chăn nuôi heo của bà V tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện C từ năm 2011 đến nay. Cơ sở giết mổ động vật (heo) của ông Phạm Thanh Q thành lập năm 2009 ở xã T, Tp M, do quy hoạch nên Nhà nước buộc cơ sở giết mổ gia súc của ông Q phải di dời nơi khác. Tuy nhiên cơ sở giết mổ mới xây dựng của ông Q chỉ cách trại chăn nuôi của bà chỉ 36m, với khoảng cách ngắn thì khả năng lây truyền mầm bệnh sang cơ sở chăn nuôi heo là chắc chắn. Nếu cơ sở giết mổ của ông quốc đi vào hoạt động thì cơ sở chăn nuôi heo của bà bị phá sản là điều không thể tránh khỏi.

Nay bà V yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Thanh Q ngừng thi công và di dời công trình đi nơi khác, đảm bảo cách xa cơ sở chăn nuôi heo ít nhất 1km theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 3 và khoản 2 điều 5 Quyết định số: 33/2016/QĐ-UBND ngày 30-6-2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang.

+ Tại biên bản hòa giải ông Phạm Thanh Q trình bày: Lò giết mổ trước đây tọa lạc tại ấp A, xã T, TP M nằm đối diện cách trang trại của chị V một con đường. Sau đó có chủ trương của nhà nước yêu cầu di dời lò giết mổ ra khỏi thành phố nên Phòng nông nghiệp, thú ý huyện C đến khảo sát cho ông di dời lò giết mổ đến địa chỉ mới tại ấp B, xã L, huyện C cách trang trại của chị V khoảng 50m, nằm phía sau lưng trang trại chị V. Việc di dời được cơ quan có thẩm quyền cho phép, nhưng chị V vẫn khởi kiện yêu cầu ngưng thi công. Khi xây dựng ông đã xây tường rào cao 3m, hiện công trình đã xây dựng xong và đã đi vào hoạt động. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của chị V, ông không đồng ý.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng A vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Căn cứ khởi kiện là điểm b khoản 1 Điều 4 Thông tư số 60/2010/TT-BNNPTNT ngày 25/10/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; khoản 2 Điều 5 Quy định quản lý hoạt động chăn nuôi giết mổ… Ban hành kèm theo Quyết định số 33/2016/QĐ-UBND ngày 30-6-2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang; Điều 267 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 177 Bộ luật dân sự năm 2015).

Anh Phạm Thanh Q không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì công trình xây dựng lò giết mổ được sự cho phép của các cơ quan có thẩm quyền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về “Yêu cầu ngừng thi công và di dời công trình” thuộc tranh chấp về các quyền khác đối với tài sản. Bị đơn cư trú trên địa bàn huyện Chợ Gạo. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

Chị Đoàn Thị P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị P.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà Võ Thị Thu V là chủ cơ sở chăn nuôi heo (quy mô vừa) tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện Chợ Gạo đã được các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi động vật và đủ điều kiện vệ sinh thú y, đã đi vào hoạt động từ năm 2011 đến nay.

Ông Phạm Thanh Q là chủ hộ kinh doanh lò giết mổ gia súc, trước đây lò giết mổ tại ấp A, xã T, thành phố M, sau di dời đến địa chỉ mới tại thửa đất 1795 ấp B, xã L, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang do ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang có chủ trương đến năm 2020 địa bàn thành phố Mỹ Tho không còn lò giết mổ gia súc theo Quyết định số 3460/QĐ-UBND ngày 27-12-2014. Ông Quốc đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép xây dựng, giấy xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường.

Sau khi di dời đến địa điểm mới thì lò giết mổ gia súc của ông Q gần với cơ sở chăn nuôi heo của bà V, theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22-3-2018 xác định lò giết mổ cách trại chăn nuôi 40m.

Bà V cho rằng lò giết mổ cách cơ sở chăn nuôi với khoảng cách ngắn như vậy chắc chắn sẽ lây truyền mầm bệnh sang cơ sở chăn nuôi heo của bà, sẽ dẫn đến phá sản. Nguyên đơn căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 3 và khoản 2 điều 5 Quyết định số: 33/2016/QĐ-UBND ngày 30-6-2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang để khởi kiện bị đơn.

Tại Quyết định số 33/2016/QĐ-UBND ngày 30-6-2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang, Ban hành quy định về quản lý hoạt động chăn nuôi, giết mổ, sơ chế, mua bán, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật và ấp trứng gia cầm trêm địa bàn tỉnh Tiền Giang. Quyết định này đã thay thế Quyết định số 19/2013/QĐ-UBND ngày 04-6-2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Điểm b khoản 2 Điều 3 Quyết định 33/2016/QĐ-UBND ngày 30-6-2016 quy định: “b) Có tường rào bao quanh, cách biệt, cách xa bệnh viện, trường học, chợ, công sở, nhà dân, nơi thường tập trung đông người, đường giao thông chính, nguồn nước mặt tối thiểu 100 m. Riêng cơ sở chăn nuôi heo (quy mô lớn và vừa) phải cách nhà máy chế biến, giết mổ heo, chợ buôn bán heo tối thiểu 01 km”.

Khoản 2 Điều 5 Quyết định 33/2016/QĐ-UBND ngày 30-6-2016 quy định: “ 2. Có tường bao quanh, cách biệt với nhà dân, xa các trang trại chăn nuôi và các nguồn gây ô nhiễm (bãi rác, nhà máy thải bụi và hóa chất độc hại, đường quốc lộ).

Theo các quy định trên, không có quy định lò giết mổ phải cách cơ sở chăn nuôi heo ít nhất 01 km. Chỉ quy định phải có tường bao quanh, cách biệt với nhà dân, xa các trang trại chăn nuôi và các nguồn gây ô nhiễm. Nguyên đơn cho rằng khoảng cách phải xa các trang trại chăn nuôi ít nhất 01 km là căn cứ vào khoản 2 Điều 5 của Quy định kèm theo Quyết định số 19/2013/QĐ-UBND ngày 04-6-2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang. Tuy nhiên Quyết định số 19/2013/QĐ-UBND ngày 04-6-2013 đã bị hủy bỏ, thay thế bằng Quyết định số 33/2016/QĐ-UBND ngày 30-6-2016 nên không còn giá trị pháp lý để áp dụng. Hơn nữa việc ông Q xây dựng lò giết mổ theo quy định của các cơ quan có thẩm quyền, xây tường rào cao 3m, cách biệt với nhà dân, cách xa với cơ sở chăn nuôi và đã được cơ quan chuyên môn thẩm định cấp phép hiện nay đã đi vào hoạt động.

Mặc dù sau đó Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã ban hành Thông tư số 13/2017/TT-BNNPTNT ngày 20-6-2017 Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực thú y và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20-12-2017. Tại Mục 2. Quy định kỹ thuật của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia yêu cầu vệ sinh thú y đối với cơ sở giết mổ động vật tập trung:

“2.1. Yêu cầu về địa điểm

2.1.1. Phải nằm trong quy hoạch được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt và được cơ quan có thẩm quyền cấp phép.

2.1.2. Phải cách biệt tối thiểu 500m với khu dân cư, trường học, bệnh viện, nơi thường xuyên tập trung đông người, đường quốc lộ, sông, suối, nguồn cung cấp nước sinh hoạt.

2.1.3. Phải cách biệt tối thiểu 01km với trại chăn nuôi, chợ buôn bán gia súc, gia cầm và các nguồn gây ô nhiễm như bãi rác, nghĩa trang, nhà máy thải bụi và hóa chất độc hại.”

Do đó tại thời điểm ông Q xây dựng lò giết mổ là đúng theo quy định của các cơ quan Nhà nước. Mặc khác, thiệt hại chưa xảy ra do đó chưa có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 177 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Thị Thu V về yêu cầu ông Phạm Thanh Q ngừng thi công và di dời công trình.

2. Về án phí:

Bà Võ Thị Thu V phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn đã nộp 300.000(ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 35193 ngày 21-4-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ