vanban.org

Bản án 192/2017/HSPT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng N và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Xử phạt Nguyễn Hoàng N 12 (mười hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/3/2017. Về án phí: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn hoàng nam - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng N và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2017/HSPT
Ngày 19/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Đình Thắng

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Cảnh

Ông Cao Văn Hiếu

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lựu - Kiểm sát viên.

Ngày 19/9/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 154/2017/HSPT ngày 22/8/2017 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 22/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hoàng N – Tên gọi khác: Q, sinh ngày 01.3.1993 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn Y, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Số CMND: 201641xxx; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T; Có vợ là Phạm Thị Kiều V và 01 con sinh năm 2016; Tiền án: Chưa; Tiền sự: Tháng 11/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng nhưng chưa chấp hành.

Nhân thân: Ngày 06.9.2102 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/3/2017. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoàng N là người nghiện ma túy, để có tiền sử dụng ma túy, từ giữa tháng 02/2017 Nguyễn Hoàng N bắt đầu mua ma túy về bán cho con nghiện để kiếm lời. Mỗi lần mua ma túy, Nguyễn Hoàng N đi vào xã Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam mua ma túy của một người tên P (không rõ lai lịch, nhân thân) về phân nhỏ ra sử dụng và bán lại cho các con nghiện, mỗi lần Nguyễn Hoàng N bán ma túy cho các con nghiện với giá từ 300.000 đồng – 500.000 đồng. Vào ngày 29/3/2017, Trần Văn T (sinh năm 1995, trú thôn Đ, xã H, huyện H) điện thoại cho N hỏi mua ma túy với giá 500.000 đồng, N đồng ý và hẹn T tại khu vực cây xăng H thuộc thôn Đ, xã H, huyện H để giao dịch mua bán. Sau khi giao dịch với T xong, N điều khiển xe mô tô BKS 43X5-8845 chạy vào xã Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam mua 01 gói ma túy của P với giá 5.000.000 đồng và nhờ P phân một gói nhỏ với giá 500.000 đồng để N bán cho T. Số ma túy còn lại N gói lại giấu vào túi quần của mình. Vào lúc 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi N đang bán ma túy cho T tại cây xăng H thì bị Công an huyện Hòa Vang bắt quả tang, thu giữ 01 gói ma túy N đang bán cho T (ký hiệu A1) có trọng lượng 0,225 gam có chứa thành phần Methamphetamine và 01 gói ma túy giấu trong túi quần của N (ký hiệu A2) có trọng lượng 4,371 gam có thành phần Methamphetamine.

Ngoài ra Nguyễn Hoàng N còn khai nhận trong khoảng tháng 02/2017 đến giữa tháng 03/2017 đã nhiều lần bán ma túy cho Trần Văn T và Tạ Văn V (sinh năm 1997, trú tại thôn L, xã H, huyện H), cụ thể:

- Vào giữa tháng 02/2017, N bán cho T 01 gói ma túy giá 500.000 đồng.

- Vào đầu tháng 3/2017, N bán cho V 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng.

- Vào giữa tháng 3/2017, N bán cho T 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng và bán cho V 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng.

Tại Bản án sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 22/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46 BLHS

Xử phạt Nguyễn Hoàng N 12 (mười hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/3/2017.

Ngoài ra bản án còn tuyên về phần xử lý vật chứng, phần án phí, quyền kháng cáo bản án.

Ngày 29/7/2017, bị cáo Nguyễn Hoàng N có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng N có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và nằm trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ. Bị cáo N đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nên Bản án sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 22/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang đã xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội. Bản án sơ thẩm cũng đã xem xét mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm o, p khoản 1 Điều 46 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 12 năm tù là quá nghiêm khắc. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp các giấy tờ thể hiện gia đình có công cách mạng nên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng N cũng thừa nhận Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự là đúng và bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo của bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng N cũng khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 29/3/2017, tại khu vực cây xăng H thuộc thôn Đ, xã H, huyện H, Công an huyện Hòa Vang bắt quả tang Nguyễn Hoàng N đang bán ma túy cho Trần Văn T, thu giữ 01 gói ma túy N đang bán cho T (ký hiệu A1) có trọng lượng 0,225 gam có chứa thành phần Methamphetamine và 01 gói ma túy giấu trong túi quần của N (ký hiệu A2) có trọng lượng 4,371 gam có thành phần Methamphetamine. Ngoài ra Nguyễn Hoàng N còn khai nhận trong khoảng tháng 02/2017 đến giữa tháng 03/2017 đã 02 lần lần bán ma túy cho Trần Văn T mỗi lần bán với giá 300.000 đồng và 02 lần bán ma túy cho Tạ Văn V mỗi lần bán 500.000 đồng. Do đó, Bản án sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 22/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang đã xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng N: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bản án sơ thẩm đã đánh giá về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đồng thời áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 12 năm tù là phù hợp. Các quyết định của Bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp các giấy tờ thể hiện gia đình có công cách mạng nên HĐXX sẽ áp dụng thêm khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên HĐXX xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, vì tội phạm ma túy ngày càng diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng, do vậy cần phải xử phạt nghiêm để nhằm mục đích răn đe giáo dục và phòng ngừa. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng Hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận đề nghị giảm nhẹ hình phạt của đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng N và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS

Xử phạt Nguyễn Hoàng N 12 (mười hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/3/2017.

2. Về án phí: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ