- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà N.T.T
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 191/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-3-2023 V/v Tranh chấp Ly hôn bà N.T.T – ông P.T.D |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Bảy.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Kim Hoàng
2. Ông Trần Đức Nhì
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Anh Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 702/2022/TLST-HNGĐ ngày 22/11/2022, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐSTXX-HNGĐ ngày 07/03/2023 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà N.T.T, sinh năm 1983
Địa chỉ: 580/3A P.V.C, Phường I, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh
(Đương sự có mặt)
2. Bị đơn: Ông P.T.D, sinh năm 1981
Địa chỉ: 580/3A P.V.C, Phường I, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh
(Đương sự có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà N.T.T trình bày: Bà T và ông P.T.D chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 05 quyển 01/2008, ngày 08/01/2008 tại Ủy ban nhân dân Phường I, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau một thời gian chung sống, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do không cùng chung quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, luôn bất đồng ý kiến. Ông D nghiện ma túy, đang cai nghiện tự nguyện tại Cở sở xã hội Nhị Xuân từ tháng 10 năm 2022 đến nay. Ông D nghiện ma túy và còn cờ bạc gây nợ nần, Bà T và gia đình đã trả thay, ngoài ra ông D thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình với bà T, do thương tích không nhiều nên bà T không đi điều trị tại bệnh viện. Trong gia đình ông D sống không có trách nhiệm, không quan tâm đến các con. Ông D và bà T không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau, hai bên cũng đã tự hòa giải, hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả. Nay tình cảm không còn và không thể hàn gắn được nên bà T có nguyện vọng được ly hôn với ông D
Về con chung: Có 02 con chung tên P.N.K.V, sinh ngày 26/7/2008 và P.N.A.K, sinh ngày 21/5/2014, Bà T xin nuôi 02 con chung. Bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có; nợ chung: không có.
Bị đơn ông P.T.D có đơn xin vắng mặt, tại bản tự khai ngày 01/3/2023, ông D trình bày: Ông D và bà T sống chung từ năm 2008, và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 05 quyển 01/2008, do Ủy ban nhân dân Phường I, Quận Y cấp ngày 08/01/2008.
Mâu thuẫn gia đình phát sinh từ tháng 10/2022 đến nay. Nay bà T yêu cầu ly hôn, ông D không đồng ý, ông D muốn đoàn tụ gia đình.
Về con chung: có 02 con chung tên P.N.K.V, sinh ngày 26/7/2008 và P.N.A.K, sinh ngày 21/5/2014.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông D tự khai không có.
Tại phiên tòa hôm nay:
Ông D có đơn xin vắng mặt vì đang cai nghiện ma túy tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân
- số 189E Đặng Công Bỉnh, ấp 5, xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
Bà T giữ nguyên yêu cầu ly hôn và nuôi con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung, xét thấy các bên đã mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến việc sống ly thân, các bên không còn tình cảm với nhau, không muốn tiếp tục chung sống nên căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao 02 con chung tên P.N.K.V, sinh ngày 26/7/2008 và P.N.A.K, sinh ngày 21/5/2014 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung các đương sự tự khai không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Vụ án thuộc trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Bị đơn có nơi cư trú tại Quận 6 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự: bị đơn ông P.T.D có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự này theo quy định tại các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về nội dung:
- Bà N.T.T và ông P.T.D sống chung từ năm 2008, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 05 quyển 01/2008, do Ủy ban nhân dân Phường I, Quận Y cấp ngày 08/01/2008. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do ông D nghiện ma túy và cờ bạc, bạo lực gia đình, không cùng chung quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, luôn bất đồng ý kiến, Bà T và ông D không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau, hai bên cũng đã tự hòa giải, hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả. Sau thời gian ly thân, bà T xác định không còn tình cảm với ông P.T.D, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông P.T.D.
Xét thấy: Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ và hòa giải cho bị đơn ông P.T.D, Ông D hiện đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân - số 189E Đặng Công Bỉnh, ấp 5, xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Ông D đã có bản tự khai ngày 01/3/2023 và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được.
Tại bản tự khai ngày 01/3/2023, ông D thừa nhận vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và hiện nay ông D đang cai nghiện tự nguyện và mong muốn được đoàn tụ gia đình với bà T.
Xét mâu thuẫn hôn nhân giữa Bà T và ông D: Ông D bản thân nghiện ma túy, không chăm lo gia đình, cuộc sống gia đình gặp nhiều khó khăn, bản thân không nhận thức được hành vi của mình, làm ảnh hưởng đến gia đình, xã hội. Mặt khác ông D còn có hành vi bạo lực gia đình với bà T làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu của bà T xin ly hôn với ông D là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Ông D và bà T có 02 con chung tên P.N.K.V, sinh ngày 26/7/2008 và P.N.A.K, sinh ngày 21/5/2014, bà T xin nuôi 02 con chung. Do hiện nay ông D đang cai nghiện ma túy, việc nghiện ma túy của ông D làm ảnh hưởng đến việc giáo dục con chung nên xét yêu cầu về việc nuôi con của bà T là có cơ sở và phù hợp với nguyện vọng của trẻ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T được trực tiếp 02 con chung. Về việc cấp dưỡng nuôi con, bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T, ông D tự khai không có, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà N.T.T
- Về quan hệ hôn nhân: Bà N.T.T được ly hôn với ông P.T.D
Giấy chứng nhận kết hôn số 05 quyển 01/2008 của Ủy ban nhân dân Phường I, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh không còn hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên P.N.K.V, sinh ngày 26/7/2008 và P.N.A.K, sinh ngày 21/5/2014 cho bà N.T.T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Bà T không yêu cầu ông P.T.D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của trẻ theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về tài sản chung: Bà N.T.T và ông P.T.D tự khai không có.
Về nợ chung: Bà N.T.T và ông P.T.D tự khai không có.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà N.T.T phải chịu là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0012731 ngày 22/11/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 6. Bà T đã nộp đủ án phí.
3. Quyền kháng cáo: Bà N.T.T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông P.T.D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND Quận 6; - Chi cục THADS, Quận 6; - UBND Phường I, Quận Y; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Bé Bảy |