vanban.org

Bản án 191/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật tố tụng dân sự;

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí. Chấp nhận đơn ly hôn của chị Hoàng Thị Linh. Chị linh được ly hôn anh Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Linh-Thành"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/5/2023
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quốc Khánh

2. Ông Nguyễn Tiến Chuyển

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Kỳ Anh - Cán bộ tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm: Bà Lê Thị Thùy

Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 11/5/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 86/2023/TL-HNGĐ ngày 02/3/2023 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2020/QĐXX-ST ngày 25/4/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Linh, sinh năm 1987

Nơi ở: Xã Đồng Danh, huyện Sơn Cẩm, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: Nguyễn Trung Thành, sinh năm 1983

Nơi ở: Số 12 ngõ 91 đường Quang Tiến, TDP An Thái, phường Đại Mỗ,

quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Cùng đăng ký HKTT: TDP An Thái, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm,

Hà Nội.

Đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn tại bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị

Linh trình bày:

Về tình cảm: Tôi và anh Nguyễn Trung Thành tự nguyện tìm hiểu và đăng

ký kết hôn vào ngày 10/05/2013 tại UBND xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội. (nay là phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội). Sau khi kết hôn, mặc dù cuộc sống ban đầu vất vả, khó khăn nhưng hai vợ chồng vẫn cố gắng vượt qua, cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng lúc đầu có hòa thuận hạnh phúc. Khoảng năm 2018 anh Thành bắt đầu chơi cờ bạc, lô đề dẫn đến nợ nần chồng chất. Chủ nhà đến đòi nợ thường xuyên, còn ném nhiều thứ ô uế vào nhà để uy hiếp tinh thần cả gia đình, gây ảnh hưởng đến cuộc sống tâm lý của cả gia đình và đặc biệt gây ảnh hưởng đến các con. Rất nhiều lần hành vi này đã tái phạm và anh Thành không hề thay đổi. Anh Thành đã bị Tòa án quận Cầu Giấy xét xử về hành vi Đánh bạc. Có thời điểm anh Thành còn đi cặp bồ với người phụ nữ khác khiến tinh thần tôi bị tổn thương.

Mặc dù gia đình 2 bên, bạn bè và anh em đã hòa giải nhiều lần, nhưng tình

nghĩa vợ chồng không còn, vợ chồng tôi không thể hàn gắn, sống chung với nhau được nữa. Tôi nhận thấy mục đích hôn nhân của chúng tôi không đạt được, nên tôi đề nghị Qúy Tòa xem xét giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Thành. Chúng tôi đã ly thân khoảng 3 năm nay, tôi và hai con đã về Thái Nguyên từ cuối năm 2021 cho đến nay. Anh Thành vẫn sinh sống ở Đại Mỗ. Tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, tôi đã cho anh Thành nhiều cơ hội, tôi giữ nguyên quan điểm xin ly hôn.

Về con chung:

Chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Vũ Phong, sinh ngày

17/08/2013 và cháu Nguyễn Minh Ánh sinh ngày 15/12/2015. Sau khi ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả 02 cháu Vũ Phong và cháu Minh Ánh, không yêu cầu anh Thành cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay tôi làm kinh doanh bất động sản tự do, thu nhập khoảng 10.000.000/tháng, mẹ tôi cho tôi và các con ở cùng nhà tại Đồng Danh,Sơn Cẩm, TP Thái Nguyên, mẹ tôi giúp đỡ tôi chăm sóc các cháu khi tôi bận công việc, tôi có đạo đức để giáo dục và dạy dỗ các cháu tốt. Từ bé đến lớn các cháu đều do mình tôi chăm sóc dậy dỗ, anh Thành ham chơi cờ bạc, năm 2019 anh Thành bị đi tù về tội Đánh bạc. Các cháu còn nhỏ và rất quấn quýt nhau, nên tôi mong Tòa án cho tôi được nuôi 02 cháu, khi nào các cháu lớn một chút tôi đồng ý để anh Thành nuôi một cháu. Tôi nuôi cả hai cháu cũng rất vất vả nhưng vì tương lai của các cháu nên tôi vẫn muốn nuôi các cháu để các cháu có môi trường tốt và chăm sóc tốt.

+ Về tài sản chung: Chúng tôi không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án

giải quyết.

+ Về nợ chung: Chúng tôi không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

- Bị đơn trình bày:

Về tình cảm: Về điều kiện kết và thời gian kết hôn như chị Linh trình bày là

đúng.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc. Sau đó, đến khoảng

năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tôi ham chơi cờ bạc nguyên nhân do bạn bè rủ rê gây ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Cuối năm 2019 tôi bị Tòa án Cầu Giấy xét xử 09 tháng tù về tội Đánh bạc. Tôi đã nhận ra lỗi lầm và đang thay đổi, tôi xác định vợ chồng vẫn còn tình cảm với nhau, đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ cùng nuôi dậy các con. Cô Linh có đơn ly hôn tôi không đồng ý. Cô Linh và 02 con đã về Thái Nguyên là nhà bố mẹ đẻ cô Linh ở từ cuối năm 2021 cho đến nay.

Tôi vẫn giữ quan điểm là không đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án hòa giải để

vợ chồng đoàn tụ cùng nuôi dạy con.

Về con chung:

Chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Vũ Phong, sinh ngày

17/08/2013 và cháu Nguyễn Minh Ánh sinh ngày 15/12/2015. Nếu trường hợp ly hôn xảy ra tôi có nguyện vọng được nuôi cả hai con vì tôi nhận thấy tôi có điều kiện như nhà ở ổn định tại phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, HN, tôi đang làm tự do thu nhập 10.000.000 đ - 12.000.000 đ/tháng. Tôi đã thay đổi không còn như thời gian trước đây, tôi biết trước đây tôi thiếu trách nhiệm với vợ con, giờ tôi đã thay đổi.

Về tài sản chung, nhà đất, nợ chung: Chúng tôi không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà:

Chị Linh giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trước đây.

Anh Thành không đồng ý ly hôn với chị Linh và giữ nguyên quan điểm về

con chung, tài sản chung và nợ chung đã trình bày trước đây.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định.

1. Về tố tụng:

Chị Hoàng Thị Linh và anh Nguyễn Trung Thành có đăng ký kết hôn tại

UBND xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội (nay là UBND phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, HN) vào ngày 10/5/2013 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Do đó đây là hôn nhân hợp pháp. Anh Thành có HKTT và sinh sống tại số 12, ngõ 91, đường Quang Tiến, TDP An Thái, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội nên yêu cầu của chị Linh thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

2. Về nội dung:

- Về tình cảm: Chị Linh và anh Thành đều xác nhận vợ chồng thường xuyên

xảy ra mâu thuẫn và ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Từ khi thụ lý Tòa án đã tích cực hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Đến nay chị Linh vẫn cương quyết ly hôn, anh Thành không đồng ý ly hôn, nếu chị Linh đồng ý để anh nuôi cả 2 con thì anh sẽ đồng ý ly hôn.

Xét thấy trong cuộc sống, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa chị Linh và anh Thành không có được điều này mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Đó là nguyên nhân dẫn đến việc anh chị sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Anh Thành có thời gian dài chơi bời cờ bạc không quan tâm đến gia đình vợ con. Năm 2019 anh Thành bị Tòa án quận Cầu Giấy xét xử về tội Đánh bạc. Trong quá trình giải quyết chị Linh cương quyết xin ly hôn, anh Thành không đồng ý ly hôn, nhưng anh có ý kiến sẽ đồng ý ly hôn nếu chị Linh để anh nuôi cả hai con. Như vậy hôn nhân giữa anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc anh Thành không đồng ý ly hôn chỉ là lý do chứ không phải còn tình cảm với chị Linh. Việc chị Linh xin ly hôn anh Thành là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần được chấp nhận.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Vũ Phong, sinh ngày 17/08/2013 và cháu Nguyễn Minh Ánh sinh ngày 15/12/2015.

Chị Linh và anh Thành đều có nguyện vọng được nuôi cả 02 con. Nguyện vọng của anh chị là chính đáng, nhưng phải xem xét về mọi phương diện nên giao con cho ai nuôi để các cháu có môi trường sống tốt nhất.

Chị Linh có công việc và mức lương ổn định chị đang làm bất động sản tự do là 10.000.000 đồng/tháng. Từ khi các cháu còn bé đến nay chủ yếu do chị Linh chăm sóc nuôi dưỡng. Năm 2021 cả 03 mẹ con chị đã chuyển về nhà mẹ đẻ của chị ở ổn định tại Đồng Danh, Sơn Cẩm, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Mẹ đẻ chị Linh là bà Nguyễn Thị Lý đồng ý cho 03 mẹ con chị về ở cùng nhà với bà tại Thái Nguyên. Bà Lý có Đơn trình bày gửi cho Hội đồng xét xử. Tòa án đã hỏi trực tiếp 02 con của anh chị, cả 02 cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.

Anh Thành có thời gian dài chơi cờ bạc, nơ nần phải đi trốn nợ và năm 2019 đã bị Tòa án quận Cầu Giấy xét xử về tội Đánh bạc. Anh Thành trình bày hiện nay anh đang sinh sống cùng nhà với bố mẹ đẻ tại Đại Mỗ, anh đang làm tự do, thu nhập khoảng 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng/tháng.

Căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

Xét thấy, hai anh chị đều có nguyện vọng được nuôi cả 02 con. Nhưng về các điều kiện thì giao cho chị Linh nuôi cả hai con là đảm bảo và phù hợp quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: Anh chị không có, không yêu cầu tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về án phí: Chị Linh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

Điều 28, 35, 39; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng

dân sự;

Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147, 271, 273

Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.

Xử:

- Chấp nhận đơn ly hôn của chị Hoàng Thị Linh. Chị linh được ly hôn anh

Nguyễn Trung Thành.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Vũ Phong, sinh

ngày 17/08/2013 và cháu Nguyễn Minh Ánh sinh ngày 15/12/2015

Giao cho chị Linh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu

Nguyễn Minh Ánh và cháu Nguyễn Hoàng Vũ Phong. đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Thành đến khi các con đủ 18

tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Anh Thành được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung,

không ai được ngăn cản.

- Về tài sản chung: Anh chị không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Linh phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị đã

nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số 00035082 ngày 28/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, được chuyển thành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn

15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ