vanban.org

Bản án 191/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Thanh N.

Ông Đào Thanh N được ly hôn bà Lâm Thị T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 82 ngày 30/6/2008 do Ủy ban nhân dân xã P cấp cho ông N và bà T không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Thanh N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 191/2023/HNGĐ-ST
Ngày 27 – 4 – 2023
V/v ly hôn N - T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Đình Phùng

Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 441/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 88/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đào Thanh N, sinh năm 1974 nơi cư trú: Số E, tổ H, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, xin vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Lâm Thị T, sinh năm 1973 nơi cư trú: Số E, tổ H, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo khởi kiện ngày 21/11/2022 và lời khai của nguyên đơn ông Đào Thanh N trình bày: Ông và bà Lâm Thị T tìm hiểu đã tự nguyện đi đến hôn nhân năm 2000, có đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang vào ngày 30 tháng 6 năm 2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, bà T chỉ quan tâm bên nhà cha mẹ vợ, không quan tâm bên nhà cha mẹ ông, vợ chồng còn mâu thuẫn tiền bạc. Ông và bà T ly thân từ năm 2019 đến nay, mặc dù hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trong, ông xin ly hôn bà T.

Ông và bà T có 01 con chung Đầo Văn T1, sinh năm 2001 đã trưởng thành và lao động được nên không yêu cầu giải quyết. Ông và bà T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn bà Lâm Thị T vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt khi hòa giải, xét xử là vi phạm quy định Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu, cho ông Đào Thanh N được ly hôn bà Lâm Thị T. Ông N và bà T có 01 con chung đã trưởng thành và lao động được nên không giải quyết về con chung. Ông N và bà T không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Ông N và bà T tự nguyện đi đến hôn nhân năm 2000, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 82 do Ủy ban nhân dân xã P cấp ngày 30/6/2008 nên làm phát sinh nghĩa vụ vợ chồng. Ông N cho rằng vợ chồng thường hay cãi vả, do bà T không quan tâm gia đình bên chồng mà chỉ quan tâm gia đình bên vợ, và mâu thuẫn về tiền bạc; vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, ông N yêu cầu ly hôn bà T.

Qua xác minh, thì địa phương cho biết: Ông N và bà T có nơi cư trú tại ấp P, xã P, huyện P, An Giang. Về mâu thuẫn của vợ chồng, địa phương không biết.

Ông N và bà T là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau cố gắng xây dựng cuộc sống gia đình, nuôi dạy con cái. Ông N và bà T xảy ra mâu thuẫn từ năm 2019 đã được hàn gắn vợ chồng nhiều lần nhưng không thành. Ông N và bà T ly thân nhiều năm nhưng cả hai không có thiện chí hàn gắn vợ chồng, không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cho ông N ly hôn với bà T.

Về con chung:

Ông N và bà T có 01 con chung Đào Văn T2, sinh năm 2001 đã trưởng thành và lao động dược nên không xem xét việc nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông N trình bày không có tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 322 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Thanh N.

Ông Đào Thanh N được ly hôn bà Lâm Thị T.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 82 ngày 30/6/2008 do Ủy ban nhân dân xã P cấp cho ông N và bà T không còn giá trị pháp lý.

Ông N và bà T có 01 con chung Đào Văn T2, sinh năm 2001 đã trưởng thành và lao động được.

Ông N và bà T không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.

Ông N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005775 ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Ông N không còn phải nộp thêm án phí

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ