- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 191/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15/05/2023 |
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc “V/v Ly hôn giữa chị C và anh P”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt Hồng. - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Thanh Hoàng. 2. Ông Nguyễn Văn Cường. - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo – thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền – kiểm sát viên. Ngày 15 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 500/2022/TLST–HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Trần Thị Mỹ C, sinh năm 19xx (Xin vắng mặt); Địa chỉ: Ấp X, xã K, huyện G, tỉnh T. 2. Bị đơn: Nguyễn Văn P, sinh năm 19xx (Vắng mặt); Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 12 tháng 4 năm 2022 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ C trình bày: Chị và anh P tiến đến hôn nhân 2017 trên cơ sở tự nguyện có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Đông vào năm 2017 theo giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 26/6/2017. Quá trình chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh P không quan
tâm lo lắng cho gia đình, vợ con và bạo lực gia đình nên từ đó chị và anh P sống ly thân với nhau. Nay tình cảm không còn chị yêu cầu ly hôn với anh P. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim C1, sinh ngày: xxxx và Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày xxxx. Ly hôn chị yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung, chị yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/con cho đến khi hai con trưởng thành và có khả năng lao động. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Bị đơn anh Nguyễn Văn P vắng mặt không lý do dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ nên không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị C. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không thể hiện ý kiến của mình. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Áp dụng điều 56, 81,82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Chị C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[I] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Mỹ C khởi kiện yêu cầu ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Trần Thị Mỹ C có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt Chị C theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án tống đạt niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, hai lần thông báo về phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đến dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt anh Nguyễn Văn P theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. [II] Về nội dung: - Về quan hệ hôn nhân: Chị C chung sống với anh P từ năm 2017 và được UBND xã Tân Đông cấp giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 26/6/2017 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Thời gian chung sống đến giữa năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh P không lo lắng, chăm sóc cho vợ con và bạo lực gia đình từ đó chị và anh đã sống ly thân với nhau. Mâu thuẫn kéo dài từ năm 2018 nhưng đến nay mâu thuẫn giữa anh và chị vẫn không hàn gắn được. Nay chị C xin ly hôn nhưng anh P không đến Tòa để thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị C, điều đó chứng tỏ anh P không tha thiết với cuộc hôn nhân này. Qua
xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị C yêu cầu ly hôn với anh P là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 luật hôn nhân và gia đình. - Về nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị C yêu cầu được nuôi cả 02 con chung, chị yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/ con cho đến khi hai con trưởng thành và có khả năng lao động. Hội đồng xét xử xét thấy, chị C và anh P đều có khả năng nuôi dạy con chung và hiện nay cháu C1, cháu Đ đang sống với chị. Các con có cuộc sống ổn định được chị C lo lắng, chăm sóc tốt. Về cấp dưỡng nuôi con: Người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng chị C yêu cầu là phù hợp với mức cấp dưỡng tối thiểu do pháp luật quy định nên được chấp nhận. Do đó, cần để chị C chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Kim C1, sinh ngày: xxxx và Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày xxxx và anh P phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/con cho đến khi hai con chung trưởng thành và có khả năng lao động là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Nếu sau này chị C, anh P có tranh chấp về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con sẽ khởi kiện bằng vụ án khác sau ly hôn. - Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Nếu sau này chị C, anh P có tranh chấp về tài sản chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác sau ly hôn. - Về án phí: Chị C, anh P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: - Khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; - Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Mỹ C Chị Trần Thị Mỹ C được ly hôn với anh Nguyễn Văn P. 2/ Về con chung:
- Chị Trần Thị Mỹ C được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung chưa trưởng thành tên Nguyễn Thị Kim C1, sinh ngày: xxxx và Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày xxxx. - Anh Nguyễn Văn P phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/con cho đến khi cháu C1, cháu Đ trưởng thành và có khả năng lao động. Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ khi chị Trần Thị Mỹ C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Văn P chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. - Anh Nguyễn Văn P được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. 3/ Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. 4/ Về án phí: - Chị Trần Thị Mỹ C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0028349 ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị C đã nộp đủ án phí. - Anh Nguyễn Văn P phải nộp 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con. 5/ Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. 6/ Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận: - VKSND huyện Gò Công Đông; - Chi cục THADS huyện Gò Công Đông ; - Đương sự; - UBND xã Tân Đông, huyện Gò Công Đông, tỉnh TG; - Lưu hồ sơ, AV; Lê Thị Nguyệt Hồng |