vanban.org

Bản án 191/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Chị Trần Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng Nguyễn Thị Mỹ C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 22/6/2015. Buộc anh Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi Nguyễn Thị Mỹ C mỗi tháng 745.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) cho đến khi thành niên. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày Bản án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án về tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 31 – 8 – 2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Lư Trường Tây

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thanh Điều

Bà Trương Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phương Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Trương Thanh Triệu – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2020/QĐXXST–HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 84/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm: 1996

Địa chỉ: ấp 08, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: ấp 08, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2015 chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn H tổ chức lễ cưới đến ngày 27/02/2015 anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân do anh chị cùng tự nguyện.

Sau khi cưới cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng về sau thường xuyên mâu thuẫn, cự cải, nguyên nhân là do anh Nguyễn Văn H thường xuyên đi nhậu, mỗi lần đi nhậu về là bạo hành gia đình, nhiều lần đánh đập chị Trần Thị H. Chị Trần Thị H đã nhiều lần khuyên ngăn và tha thứ nhưng anh Nguyễn Văn H không sửa đổi làm cho mâu thuẩn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, không giải quyết được dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và không thể chung sống với nhau nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2020 cho đến nay. Hiện tại chị Trần Thị H cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Có 01 người con tên Nguyễn Thị Mỹ C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 22/6/2015, hiện đang sống với chị Trần Thị H nên sau khi ly hôn chị Trần Thị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình tiến hành tố tụng, từ khi Tòa án thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Nguyễn Văn H để tiến hành phiên họp, phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi được lời khai của bị đơn cũng như bị đơn không thể hiện ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Về con chung chị Trần Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng Nguyễn Thị Mỹ C và yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung và nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Nguyễn Văn H.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn”, căn cứ theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của chị Trần Thị H tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn H phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân là do anh Nguyễn Văn H có hành vi bạo lực gia đình, từ đó vợ chồng thường bất đồng quan điểm, cự cải, không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh chị đã ly thân từ tháng 4/2020 cho đến nay. Tại phiên tòa, chị Trần Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Cho thấy, cuộc sống hôn nhân của chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn H không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nhận thấy, yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị H là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn H có 01 người con chung, tên Nguyễn Thị Mỹ C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 22/6/2015, hiện đang sống chung với chị Trần Thị H. Sau khi ly hôn chị Trần Thị H yêu cầu được nuôi dương Nguyễn Thị Mỹ C. Hội đồng xét xử nhận thấy, từ khi vợ chồng ly thân, chị Trần Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung vẫn đảm bảo phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Vì vậy, để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của Nguyễn Thị Mỹ C, nên cần thiết tiếp tục giao cho chị Trần Thị H được nuôi dưỡng Nguyễn Thị Mỹ C là phù hợp với các quy định của pháp luật, cũng như việc phát triển bình thường của Mỹ Chúc.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng cho Nguyễn Thị Mỹ C của chị Trần Thị H: Tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Do anh Nguyễn Văn H không phải là người trực tiếp nuôi Nguyễn Thị Mỹ C, anh Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật nên yêu cầu cấp dưỡng của Nguyễn Văn H là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về mức cấp dưỡng, do anh Nguyễn Văn H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ nên giữa anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H không thỏa thuận được mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng cho Nguyễn Thị Mỹ C. Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của pháp luật buộc anh Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi Nguyễn Thị Mỹ C mỗi tháng với mức cấp dưỡng ½ mức lương cơ sở tại thời điểm xét xử sơ thẩm do Nhà nước quy định là 1.490.000 đồng/tháng. Do đó, do anh Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi Nguyễn Thị Mỹ C mỗi tháng 745.000 đồng, cấp dưỡng cho đến khi Nguyễn Thị Mỹ C thành niên. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 107; Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Chị Trần Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng Nguyễn Thị Mỹ C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 22/6/2015. Buộc anh Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi Nguyễn Thị Mỹ C mỗi tháng 745.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) cho đến khi thành niên. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H đều được thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001047, ngày 26 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Anh anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng định kỳ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải chịu thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

5. Nguyên đơn Trần Thị H có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi bị đơn cư trú.

Cỡ chữ