- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Huy N phạm tội "Chống người thi hành công vụ" theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy N, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 330 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 191/2018/HS-PT Ngày: 18 - 9 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Cẩm
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Liên
Ông Nguyễn Quốc Thiện
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2018/HS-PT ngày 01 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Huy N. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2018/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Huy N, sinh năm 1977, tại huyện H, tỉnh V; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn 1, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành, sinh năm 1948 và bà Dương Thị T, sinh năm 1956; bị cáo có vợ tên là Dương Thị Khánh B, sinh năm 1984 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/3/2018, đến ngày 23/3/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/3/2018, Nguyễn Huy N được Công ty TNHH H thuê điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 47B-021.39 đi từ H đến Đ. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến Km1336 thuộc địa phận thôn P, xã C, huyện N, tỉnh Quảng Nam thì gặp Tổ tuần tra của Đội Cảnh sát giao thông số 2 (thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Nam) đang làm nhiệm vụ. Phát hiện xe biển kiểm soát 47B-021.39 có dấu hiệu vi phạm, tổ công tác gồm: Thiếu tá Phạm Phương B (tổ trưởng Tổ tuần tra) và Đại úy Nguyễn Tiến D ra hiệu lệnh dừng xe, Nguyễn Huy N chấp hành hiệu lệnh của Cảnh sát giao thông cho xe tấp vào lề đường, cách vị trí của xe ô tô Cảnh sát giao thông khoảng 07 mét. Khi xe dừng, ông Phạm Phương B lên xe ô tô khách biển kiểm soát 47B-021.39 để kiểm tra thì phát hiện trên xe chở 48 người, kể cả phụ xe và lái xe nhưng theo quy định chỉ được chở 43 người; xe chạy tuyến cố định có bán vé nhưng không trao vé cho hành khách, sau khi kiểm tra, ông B yêu cầu Nguyễn Huy N xuống xe xuất trình giấy tờ xe để lập biên bản vi phạm, Nguyễn Huy N chấp hành mang giấy phép lái xe và sổ kiểm định trình cho ông B tại xe của Cảnh sát giao thông. Lúc này, ông B thông báo lỗi vi phạm trên và chuyển giấy tờ xe, bằng lái xe của Nguyễn Huy N cho ông Nguyễn Văn Q để ông Q lập biên bản vi phạm hành chính. Khi ông Q chuẩn bị lập biên bản vi phạm hành chính thì Nguyễn Huy N xin bỏ qua lỗi nhưng không được nên giật giấy phép lái xe bỏ đi; sau đó, quay lại giật giấy tờ xe và tập biên bản vi phạm hành chính của ông Nguyễn Văn Q đang tiến hành ghi biên bản, ông Q dùng tay giằng co tập biên bản với Nguyễn Huy N nhưng không được nên đã bị trầy xước lòng bàn tay. Giật được tập biên bản, Nguyễn Huy N bỏ chạy vào bụi rậm cách vị trí lập biên bản 200 mét, vứt tập biên bản tại đây và giữ lại giấy tờ xe; ông B và ông D đuổi theo nhưng không kịp. Nhận được tin báo về vụ việc, Công an huyện N đã đến hiện trường, khoảng 30 phút sau Nguyễn Huy N ra làm việc. Chiều ngày 07/3/2018, N phối hợp với cơ quan Điều tra tìm lại được tập biên bản xử phạt vi phạm hành chính mà Nguyễn Huy N đã giật trước đó.
Với nội dung vụ án như trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2018/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam đã quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huy N, phạm tội "Chống người thi hành công vụ".
Áp dụng: khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huy N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam trước đó là 16 ngày (từ ngày 07/3/2018 đến ngày 22/3/2018).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Vào ngày 26/6/2018, bị cáo Nguyễn Huy N kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Hành vi chống đối, cản trở của Nguyễn Huy N không cho Cảnh sát giao thông thực thi công vụ nên bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án và xử phạt 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo trước khi phạm tội có nhân thân tốt, nơi cư trú cụ thể rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo nhận tội và tỏ rõ sự ăn năn hối cải, là lao động chính và hoàn cảnh gia đình khó khăn; đối chiếu với hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/ NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt, áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo không tranh luận, xin giảm được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Huy N có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Huy N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ được chứng minh có tại hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/3/2018, tại Km1336 thuộc địa phận xã C, huyện N, tỉnh Quảng Nam, khi bị Đội cảnh sát giao thông số 2 thuộc Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Nam kiểm tra xe và lập biên bản vi phạm hành chính đối với xe ô tô 47B-021.39 do bị cáo điều khiển, vì đã có lỗi chở quá số người quy định thì bị cáo N đã có hành vi dùng sức mạnh giật tập biên bản vi phạm hành chính và giấy tờ xe rồi bỏ chạy. Hành vi của bị cáo Nguyễn Huy N đã cản trở lực lượng Cảnh sát giao thông thực thi công vụ . Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 03/2018/HS-ST ngày 21/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam kết án bị cáo Nguyễn Huy N về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Nguyễn Huy N 06 tháng tù là có căn cứ pháp luật. Nhưng xét bị cáo đã có thời gian bị tạm giữ, tạm giam; tính chất và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra có mức độ; trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; bị cáo là lao động chính và hoàn cảnh gia đình khó khăn; xét thấy chưa thật sự cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp; Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt, áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo.
[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị và Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Huy N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy N, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
Áp dụng: khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huy N 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (18/9/2018).
Giao bị cáo Nguyễn Huy N về Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Đ để có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2/ Bị cáo Nguyễn Huy N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3/ Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4/ Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 18/9/2018.
| Nơi nhận: - Các cơ quan tiến hành TT; - Người tham gia TT; - Phòng PV 27 C Q.Nam; - P.HSNV Sở tư pháp Q Nam; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Thế Cẩm |