vanban.org

Bản án 191/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung một số

điều năm 2014. Chấp một phần nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung một số
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
QUẬN THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2018/HNGĐ-ST
Ngày 12-3-2018
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà- Nguyễn Thị Đẳng

Bà- Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan- Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ

Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa:

không tham gia.

Ngày 12 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét

xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1286/2017/TLST-

HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án

ra xét xử số 37/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/3/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tiến T, sinh năm 1975 (có mặt)

Thường trú: 72/8 đường A, Phường B, Quận C, Tp. Hồ Chí Minh

Tạm trú: 1/20 đường số A, khu phố B, phường C, thị xã D, tỉnh Bình Dương.

Bị đơn: Bà Châu Thị Hồng N, sinh năm 1982 (có mặt)

Thường trú: 72/8 đường A, Phường B, Quận C, Tp. Hồ Chí Minh

Tạm trú: 73 đường A, Phường B, Quận C, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn kiện và lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình tố tụng, thì ông Nguyễn Tiến T và bà Châu Thị Hồng N tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn vào năm 2007, tại Ủy ban nhân dân Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đời sống hôn nhân không hạnh phúc, do vợ chồng không hợp nhau, mâu

thuẫn ngày càng nhiều, hai bên không có tiếng nói chung, và đã ly thân được 04 năm, ông T yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Tiến Dũng, sinh ngày

23/8/2008, ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: ông T khai không có.

- Bị đơn bà Châu Thị Hồng N cũng xác nhận hôn nhân không hạnh phúc và

ly thân nhau 04 năm nay. Theo bà, nguyên nhân đổ vỡ là do ông T thường xuyên rượu chè, bạo hành gia đình, không quan tâm đến vợ con, hơn nữa lại có quan hệ với người phụ nữ khác. Bà N xác định tình cảm không còn, bà đồng ý ly hôn.

Về con chung: bà N không đồng ý giao con cho ông T nuôi dưỡng. Theo

bà, kể từ khi hai bên ly thân con chung do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T hay đi sớm về khuya, rồi thi thoảng đi qua đêm không về nhà, nên sẽ không có thời gian để chăm sóc tốt cho con, hơn nữa tính tình ông T cộc cằn, hay quát nạt nên sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của con. Bản thân bà là giáo viên mầm non làm việc giờ hành chính, nên có thời gian đưa đón và chăm sóc dạy dỗ con tốt hơn ông T. Nếu bà được quyền nuôi con, bà yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

Tài sản chung và nợ chung: Bà N cũng xác định không có.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ông T giữ nguyên yêu cầu;

Bà N thay đổi một phần yêu cầu: bà yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con

theo mức từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được

công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ, được thẩm tra tại phiên tòa cùng lời khai của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Ông Nguyễn Tiến T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Châu Thị

Hồng N; bà N hiện cư trú tại quận Thủ Đức, nên quan tranh chấp giữa ông T và

bà N là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của

Tòa án nhân dân quận Thủ Đức theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a

khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Qua lời khai của hai bên đương sự, nhận thấy đời

sống vợ chồng giữa ông T và bà N đã có mâu thuẫn, cả hai đều đồng thuận ly

hôn, nên Tòa chấp nhận.

- Về con chung: Xét trong thời gian ly thân, con chung Nguyễn Tiến

Dũng, sinh ngày 23/8/2008 do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con; bản

thân ông T cũng ghi nhận thời gian qua, bà N nuôi con tốt, hơn nữa, nguyện

vọng của con trẻ mong muốn sống với mẹ, nên xét giao con cho bà N tiếp tục

nuôi dưỡng là hợp lý, hợp tình. Ông T yêu cầu được quyền nuôi con, nhưng lại

thừa nhận ông không có nhiều thời gian chăm sóc, nuôi dạy con, và sẽ nhờ mẹ

mình (76 tuổi) chăm sóc con; yêu cầu này hoàn toàn không thể chấp nhận được.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, xét thấy tại phiên tòa ông T đồng ý cấp

dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng, điều này hoàn toàn phù

hợp pháp luật, đạo đức và phù hợp thực tế, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Khi cần thiết, vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, bà N, ông T có

quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con; việc cấp dưỡng nuôi con cũng

có thể được thay đổi khi có lý do chính đáng.

- Về tài sản chung: Bà N, ông T đều xác định không có tài sản chung, Tòa

ghi nhận.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: ông T phải chịu theo quy định

của Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1

Điều 39; Điều 147; các Điều 271 và 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình

năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung một số

điều năm 2014.

Tuyên xử:

1. Chấp một phần nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Tiến T được ly hôn với bà Châu Thị

Hồng N.

- Về con chung : Giao con chung Nguyễn Tiến Dũng (nam), sinh ngày

23/8/2008 cho bà Châu Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con. Ông Nguyễn Tiến T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng; thực hiện vào ngày 15 hàng tháng- sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngà y quyế t đị nh có hiệ u lự c phá p luậ t và khi bà Châu Thị Hồng N có

đơn yêu cầ u thi hà nh á n , nế u ông Nguyễn Tiến T chậ m thi hà nh khoả n tiề n cấ p dưỡ ng nuôi con, thì hàng tháng phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứ ng vớ i số tiề n và thờ i gian chậ m thi hà nh á n.

Sau khi ly hôn , cha mẹ vẫn có quyề n , nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục con chưa thành niên . Người không trực tiếp nuôi con có quyền , nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở . Ngườ i không trự c tiế p nuôi con lạ m dụ ng việ c thăm nom để cả n trở hoặ c gây ả nh hưở ng xấ u đế n việ c trông nom chăm só c , nuôi dưỡ ng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầ u Toà á n hạ n chế quyề n thăm nom con củ a ngườ i đó .

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chứ c

đượ c quy đị nh tạ i khoả n 5 Điề u 84 Luậ t hôn nhân và gia đì nh năm 2014 có quyền yêu cầ u Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việ c cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổ i khi có lý do chí nh đá ng.

- Về tài sản chung: Không có.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và án

phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng, ông Nguyễn Tiến T chịu, cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà ông T đã nộp theo biên lai thu số 0037781 ngày 04/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, ông T phải nộp thêm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong

hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các

Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án

được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ