- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Nguyễn Thị Ngọc D kiện Đoàn Thị P"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc D.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 191/2018/DS-PT Ngày: 08/5/2018 V/v tranh chấp: “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng;
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Hiếu;
Ông Trần Văn Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 và 08 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Tỉnh Tiền Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 78/2018/TLPT-DS ngày 19/3/2018 về việc tranh chấp: “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 12/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2018/QĐ-PT ngày 19/3/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1961 ( có mặt)
Địa chỉ: ấp 5, xã P, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà D: Ông Cao Hoàng Ơ, sinh năm 1960;
Địa chỉ: số 801 Nguyễn Minh Đường, ấp 1, xã T, thành phố T, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Bà Đoàn Thị P, sinh năm 1950; (có mặt)
Địa chỉ: ấp 5, xã P, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyền lợi, nhgĩa vụ liên quan:
1. Chị Đoàn Thị Thu T, sinh năm 1972; (có mặt)
Địa chỉ: ấp 5, xã P, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.
2. Anh Lê Thanh T2, sinh năm 1983; (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp 5, xã P, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo:Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc D.
NỘI D VỤ ÁN
Theo án sơ thẩm:
* Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:
Do gia đình bà và bà P có tranh chấp với nhau về việc cho xe chở đất vào nhà bà và bà P, đang chờ Công an xã giải quyết. Vào khoảng 08 giờ ngày 24/4/2017, bà thấy xe chở đất vào nhà bà P đậu ở trụ sở ấp 5, xã P, bà đến nói với tài xế là không được chở để chờ Công an xã giải quyết. Lúc này, chị T (là con bà P) cầm đá chọi, bà né được nên không trúng. Sau đó, bà P rượt đánh bà, bà chạy vào nhà cô L để trốn và có gọi Công an xã đến giải quyết. Công an xã đến mời bà và bà P về trụ sở Công an xã P để làm việc.
Trên đường đi, chị T chạy đến đánh bà, Công an xã đẩy chị T ra nên không đánh trúng bà. Tiếp đó, bà P đánh bà liên tiếp 02 cái vào sau gáy cổ. Sau khi bị đánh, bà bị nhức đầu, có xin Công an xã giấy giới thiệu để đi khám bệnh nhưng Công an xã không cho và nói bà ra ngoài mua 01 ngày thuốc uống trước. Bà uống 01 liều vẫn còn nhức đầu nên đến 14 giờ cùng ngày thì Công an xã mới cho bà giấy giới thiệu khám bệnh tại Bệnh viện đa khoa Đ nhưng chồng bà thấy bà mệt nên chở bà đến Bệnh viện đa khoa khu vực C. Sau khi khám bệnh và chụp X quang, bác sĩ cho bà nhập viện điều trị từ ngày 24/4/2017 đến ngày 03/5/2017 do bà bị chấn thương cổ theo giấy chứng nhận thương tích số 96/CN ngày 05/5/2017 của Bệnh viện đa khoa khu vực C.
Nay bà yêu cầu bà P bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cụ thể như sau:
+ Chi phí điều trị gồm: Tiền thuốc, tiền nằm viện, chụp X quang, giấy chứng nhận thương tích là 691.491 đồng. Ngày 17/11/2017, bà rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với hóa đơn bán lẻ ngày 03/5/2017: 23.214 đồng và 25.000 đồng tiền thuốc mua ở ngoài không có hóa đơn chứng từ. Nay bà yêu cầu bà P bồi thường chi phí điều trị tổng cộng là 643.277 đồng, theo các hóa đơn sau: Hóa đơn bán hàng ngày 24/4/2017 58.000 đồng, Hóa đơn bán hàng ngày 03/5/2017 495.277 đồng, Hóa đơn bán hàng ngày 03/5/2017 90.000 đồng.
+ Bồi thường thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc khi bà nhập viện từ ngày 24/4/2017 đến ngày 03/5/2017 là: 10 ngày x 190.000 đồng/ngày = 1.900.000 đồng.
+ Bồi thường tổn thất tinh thần là: 15.000.000 đồng.
Tổng cộng là 17.543.277 đồng, bà làm tròn là 17.543.000 đồng, yêu cầu bà P bồi thường một lần, khi án có hiệu lực pháp luật.
* Bị đơn – bà Đoàn Thị P trình bày: Do gia đình bà và bà D có mâu thuẫn với nhau về việc cho xe chở đất vào nhà bà và bà P. Vào khoảng 08 giờ ngày 24/4/2017, bà D chặn xe chở đất vào nhà bà nên con bà là chị T bức xúc nên có lấy cục đất chọi bà D nhưng không trúng. Sau đó, bà từ nhà đi ra đến nhà cô L thì gặp bà D, chứ bà không có rượt đánh bà D như bà D trình bày. Trên đường về nhà bà gặp anh V – Công an xã P đến mời bà về trụ sở Công an xã làm việc về việc tranh chấp cho xe đổ đất vào nhà bà và bà D do chồng bà D thưa bà. Lúc đó, bà D cũng đi tới nên bà có đánh bà D 02 cái từ phía sau vào vai, trước mặt anh V. Sau đó đến Công an xã giải quyết tranh chấp giữa bà và chồng bà D. Đến khoảng 12 giờ, bà D mới nói bị nhức đầu và xin Công an xã giấy giới thiệu để đi khám. Sau khi đánh bà D, bà thấy sức khỏe của bà D bình thường, bà đánh bằng tay, không gây thương tích. Nay bà không đồng ý bồi thường cho bà D với tổng số tiền là 17.543.277 đồng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Chị Đoàn Thị Thu T trình bày: Vào khoảng 07 giờ 30 phút (không nhớ rõ ngày tháng) năm 2017, chị có về nhà mẹ (là bà P) nên có chứng kiến việc bà D ra ngăn cản không cho xe chở đất vào nhà bà P, xe chở đất phải chạy về, không dám đổ tiếp. Chị bức xúc lấy đất bên đường chọi bà D, bà D né nên không trúng. Chị đi về nhà bà P, khi đến đoạn đường nhà bà Nguyễn Thị C thì gặp bà P, anh V – Công an xã, cùng lúc này bà D cũng đi tới nên bà D và bà P cãi nhau và bà P có đánh bà D 02 cái ở vai trái từ phía sau. Bà D yêu cầu bà P bồi thường thiệt hại sức khỏe, chị không đồng ý vì bà P đánh bà D không gây thương tích và trong thời gian bà D nằm viện, anh T2 vẫn đi làm bình thường.
- Anh Lê Thanh T2 trình bày: Anh là con của bà D, bà D bị bà P đánh gây thương tích phải nằm viện điều trị, anh phải nghỉ làm để vào bệnh viện nuôi bà D từ ngày 24/4/2017 đến ngày 03/5/2017 là 10 ngày, một ngày công của anh là 190.000 đồng nên bà D có yêu cầu bà P bồi thường thu nhập thực tế bị mất của anh là 1.900.000 đồng là đúng. Anh không có ý kiến gì khác.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 12/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 590, Điều 357 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ vào tiểu mục 1.1, 1.3 và 1.5, mục 1, phần II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc D.
Buộc bà Đoàn Thị P có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị Ngọc D với số tiền là 643.277 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba ngàn hai trăm bảy mươi bảy đồng) làm một lần, khi án có hiệu lực pháp luật.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc D đối với yêu cầu bồi thường thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bà trong thời gian nằm viện và tổn thất tinh thần, tổng cộng số tiền là 16.900.000 đồng.
Kể từ ngày bà D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà P chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bà P phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.
* Ngày 14/01/2018, bà Nguyễn Thị Ngọc D có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết: Kháng cáo phần không chấp nhận bồi thường tổn thất tinh thần và tiền mất thu nhập của người nuôi dưỡng. Yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, trả về cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn xin rút lại yêu cầu đưa người vào tham gia tố tụng theo đơn đề ngày 26/3/2018 và có lập luận rằng chính bà P đã dùng tay gây thương tích khiến bà D phải nằm viện điều trị, các thiệt hại mà bà D yêu cầu là thực tế, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D, sửa án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử phúc thẩm tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án. Về nội D vụ án, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới, không chứng minh được tổn thất tinh thần cụ thể là gì nên đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; nghe quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng: nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc D khởi kiện bà Đoàn Thị P để yêu cầu bà P bồi thường chi phí điều trị, thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần vì cho rằng đã bị bà P gây thương tích, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” là đúng bản chất vụ án, phù hợp pháp luật. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ lần 2 để xét xử nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Ngày 12/01/2018 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm vụ án, không đồng ý với nội D bản án sơ thẩm đã tuyên, ngày 22/01/2018 bà D kháng cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận.
2. Về nội D vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn: bà D cho rằng bà P dùng tay đánh vào gáy gây thương tích bà phải đi nằm viện điều trị từ ngày 24/4/2017 tới 03/5/2017 xuất viện, khi bà nằm viện con bà phải bỏ việc để chăm sóc, đồng thời còn bị tổn thất tinh thần nên yêu cầu buộc bà P bồi thường 17.543.000 đồng, xét thấy, việc bà D nằm viện điều trị là có thực, tuy nhiên theo giấy xác nhận ngày 03/11/2017 của bệnh viện đa khoa khu vực Gò Công thì xác định không cần người chăm sóc trong suốt quá trình nằm viện nên việc bà D yêu cầu bồi thường thu nhập của người nuôi bệnh là không có cơ sở chấp nhận.
Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần: quá trình giải quyết vụ án bà D không xác định được bị thiệt hại tinh thần như thế nào, cụ thể ra sao, tại phiên tòa phúc thẩm bà cũng không xuất trình chứng cứ để chứng minh cho thiệt hại này nên cũng không có căn cứ để xem xét.
Từ các phân tích trên, xét bản án dân sự sơ thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 12/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tiền Giang tuyên xử chấp nhận một phần yêu cầu của bà D để buộc bà P bồi thường số tiền 643.277 đồng là có lợi cho phía nguyên đơn, phù hợp pháp luật nên cần được giữ y.
Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là chưa thuyết phục, trái với nhận định trên nên không được chấp nhận.
Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 147, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 590, Điều 357 Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào tiểu mục 1.1, 1.3 và 1.5, mục 1, phần II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc D.
Giữ y bản án sơ thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 12/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tiền Giang
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc D.
Buộc bà Đoàn Thị P có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị Ngọc D với số tiền là 643.277 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba ngàn hai trăm bảy mươi bảy đồng) bồi thường một lần.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc D đối với yêu cầu bồi thường thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bà trong thời gian nằm viện và tổn thất tinh thần, tổng cộng số tiền là 16.900.000 đồng.
Kể từ ngày bà D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà P chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bà P phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
3. Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện Đ, tỉnh TG; - CCTHADS huyện Đ, tỉnh TG; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Ngọc Thái Dũng |