- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân Đức bị xét xử về tội cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân Đ phạm tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 191/2017/HSST Ngày 10-8-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quân Vƣơng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Từ Anh Tuấn
2. Bà Bùi Thị Kim Oanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 191/2017/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2017, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 198/2017/HSST-QĐ ngày 25 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Lê Xuân Đ, sinh năm 1990 tại tỉnh Hà Tĩnh; thƣờng trú: Xóm B, xã Hòa H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: khu phố T, phƣờng H, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Xuân H, sinh năm 1965 và bà Trƣơng Thị T, sinh năm 1965; bị cáo có 02 anh chị ruột, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1988; vợ tên Nguyễn Thị L, sinh năm 1990, có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 17/3/2017, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Ngô Xuân C, sinh năm 1992; địa chỉ: đƣờng ĐT 743 khu phố Đ, phƣờng D, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lê Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm B, xã Hòa H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt tại phiên tòa.
2. Bà Trần Thị N, sinh năm 1972; địa chỉ: khu phố T, phƣờng H, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Ông Lại Văn T, sinh năm 1993; địa chỉ: Số khu phố T, phƣờng H, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt tại phiên tòa.
2. Ông Đặng Thế T, sinh năm 1989; địa chỉ: khu phố T, phƣờng H, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt tại phiên tòa.
3. Bà Nguyễn Phƣơng L, sinh năm 1993; địa chỉ: khu phố T, phƣờng H, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Lê Xuân Đ và Anh Ngô Xuân C là những ngƣời cùng quê ỏ xã Hòa H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh vào Bình Dƣơng tìm việc làm và sống tại thị xã Dĩ An.
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/01/2017, Ngô Xuân C điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamha Sirius biển số 92D1 - 099.42 đến cầu Ông Bố thuộc địa bàn phƣờng Bình Hòa, thị xã Thuận An thì va quẹt vào một xe taxi không rõ biển số. Tài xế xe taxi yêu cầu C bồi thƣờng 10.000.000 đồng chi phí sửa chữa xe nhƣng C không đồng ý. C gọi bạn là Trần Đình N nhờ ra hòa giải thỏa thuận bồi thƣờng, do bận việc nên N gọi điện nhờ S (chƣa xác định nhận thân, lai lịch) thì S gọi điện nhờ Lê Xuân Đ ra giải quyết giùm. Sau khi nhận điện thoại, Đ đón xe taxi đến hiện trƣờng vụ va quẹt gặp C. Tại đây, các bên thỏa thuận đƣợc số tiền bồi thƣờng là 1.900.000 đồng. Sau khi giao tiền, C đƣa xe máy biển số 92D1 - 099.42 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe để Đ điều khiển, còn C lên xe taxi đi về nhà trọ của Đ ở địa chỉ khu phố T, phƣờng H, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng. Tại phòng trọ, C trả công cho Đ 500.000 đồng, đồng thời Đ nhìn thấy C có sử dụng 02 điện thoại nên Đ mƣợn 01 điện thoại nhãn hiệu WiKo để sử dụng và trả lại xe máy biển số 92D1 - 099.42 cho C đi về. Riêng giấy chứng nhận đăng ký xe C quên chƣa lấy.
Đến ngày 16/01/2017, C đến nhà trọ của Đ lấy lại điện thoại và giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 92D1 - 099.42 thì Đ trả lại nhƣng mƣợn lại điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 Prime G570 (gọi tắt là Samsung J5 ) của anh C để sử dụng. Ngày 18/01/2017, C đến gặp Đ đòi lại điện thoại Samsung J5 nhƣng Đ nói đã cho tên Đ1 (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) mƣợn và Đ hứa sẽ lấy lại điện thoại trả cho C. Đồng thời Đ mƣợn C thêm 3.000.000 đồng để tiêu xài thì C đồng ý.
Khoảng 17 giờ ngày 14/02/2017, C điều khiển xe máy biển số 92D1-099.42 đến gặp Đ. Tại phòng số 9, nhà trọ địa chỉ khu phố T, phƣờng H, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng. C nói Đ trả lại điện thoại nhãn hiệu Samsung J5 và 3.000.000 đồng, do chƣa có tiền trả nên Đ nảy sinh ý định cấn trừ nợ với C. Đ nói với C tiền công Đ giúp C đứng ra giàn xếp vụ va quẹt xe vào ngày 14/01/2017 là 10.000.000 đồng, trừ đi 3.000.000 đồng mà Đ đang nợ C và điện thoại Samsung J5 Đ mƣợn của C trị giá 3.000.000 đồng thì C thiếu ngƣợc lại Đ số tiền là 4.000.000 đồng. Đ yêu cầu C trả 4.000.000 đồng cho Đ thì mới đƣợc về nhƣng C không đồng ý. C hẹn hôm khác giải quyết thì bị Đ dùng tay đấm vào mặt 01 cái. Tiếp đó, Đ lấy điện thoại vờ gọi cho bạn bè đến hỗ trợ nên C đứng lên định bỏ về thì Đ lấy 01 con dao cán vàng dài khoảng 20cm, đe dọa sẽ đâm nếu C bỏ về. Đ nói anh C phải giải quyết chuyện nợ nần nhanh nếu không sẽ gọi bạn bè đến. Do anh C nói không có tiền và đòi đi về nên Đ yêu cầu C để lại xe máy biển số 92D1 - 099.42 để Đ giữ làm tin, đảm bảo C sẽ trả 4.000.000 đồng nhƣng C không đồng ý.
C đứng lên bỏ đi thì Đ cầm dao kề vào lƣng C. C gạt tay làm con dao của Đ rơi xuống đất. C nhặt con dao ném lên gác xép phòng trọ và đi ra đến cửa thì Đ chặn lối đi và dùng tay đánh vào mặt, Đ nói C vào phòng nói chuyện, yêu cầu C để lại xe làm tin nhƣng C vẫn không đồng ý, Đ lấy ổ khóa hiệu Việt Tiệp khóa bánh trƣớc xe biển số 92D1 - 099.42 (xe đang dựng ở hành lang trƣớc cửa phòng trọ của Đ) rồi đuổi C ra khỏi phòng. Khi anh C đã bƣớc ra khỏi cửa phòng, Đ đi qua phòng số 8 của anh Lại Văn T mƣợn 01 ổ khóa nhãn hiệu Yati để khóa của phòng Đ lại rồi đuổi C về. Đ đi bộ ra khỏi dãy trọ khoảng 05 phút sau quay lại nhƣng vẫn nhìn thấy C ngồi trên xe mô tô biển số 92D1 - 099.42 chƣa chịu về. Đ dùng tay phải đánh vào mặt anh C khoảng 01 - 02 cái (không để lại thƣơng tích). Tiếp đó, Đ chạy qua phòng anh Lại Văn T lấy 01 cây gỗ dài khoảng 50cm, sơn màu trắng đỏ rồi chạy đến dùng cây gỗ đánh anh C một cái trúng vào phần mạn sƣờn bên trái (không để lại thƣơng tích).
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, thấy C vẫn chƣa chịu về. Đ nói với C: “mày đến dãy trọ này thì phải để lại cái gì đó mới đƣợc về!”. Đồng thời nhìn thấy trên cổ C đeo 01 sợi dây chuyền bạc nên Đ nói: “mày để lại cho anh sợi dây chuyền rồi đi về, đến dãy trọ này mà không để lại gì là không đƣợc đâu”. Tuy nhiên C vẫn không đồng ý nên Đ lao vào dùng tay tát vào mặt và dùng chân đá vào bụng làm anh C té ngữa xuống đất. Do bị đánh nên anh C đứng lên tự tháo sợ dây chuyền đƣa cho Đ thì đƣợc Đ mở ổ khóa cho lấy xe ra về.
Đến chiều ngày 15/02/2017, Đ đem dây chuyền bạc đến cầm cho chị Trần Thị N là chủ tiệm vàng Kim Sơn ở địa chỉ khu phố T, phƣờng H, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng đƣợc 700.000 đồng và tiêu xài hết.
Kết luận định giá số 58/BB.ĐG ngày 31/3/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An xác định trị giá sợi dây chuyền bạc trong lƣợng 25 chỉ là 1.625.000 đồng. Bị cáo, ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử không có ý kiến hay khiếu nại về việc xác định giá trị.
Cáo trạng số 197/QĐ-KSĐT ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Lê Xuân Đ về tội “Cƣởng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 135; Điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Xuân Đ mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thƣờng xong cho ngƣời bị hại; tại cơ quan điều tra, ngƣời bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 17 giờ ngày 14/02/2017 tại phòng số 9, nhà trọ địa chỉ khu phố T, phƣờng H, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng, Ngô Xuân C gặp Lê Xuân Đ đòi lại điện thoại nhãn hiệu Samsung J5 và 3.000.000 đồng cho Đ mƣợn. Đ không trả mà nói C còn nợ của Đ tiền đã đứng ra giải quyết vụ va quẹt xe của C. Sau đó, Lê Xuân Đ nói với C: “mày đến dãy trọ này thì phải để lại cái gì đó mới đƣợc về!”. Đồng thời nhìn thấy trên cổ C đeo 01 sợi dây chuyền bạc, trọng lƣợng 25 chỉ nên Đ nói: “mày để lại cho anh sợi dây chuyền rồi đi về, đến dãy trọ này mà không để lại gì là không đƣợc đâu”. C không đồng ý nên Đ lao vào dùng tay tát vào mặt và dùng chân đá vào bụng làm anh C té ngữa xuống đất. Do bị đánh nên C đứng lên tháo sợ dây chuyền đƣa cho Đ thì đƣợc Đ cho lấy xe ra về.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa; phù hợp với lời khai ngƣời làm chứng, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở xác định: Hành vi sử dụng vũ lực nhƣng chƣa đến mức làm ngƣời bị hại tê liệt ý chí nhằm cƣỡng đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Cáo trạng số 197/QĐ-KSĐT ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Lê Xuân Đ về “Tội cƣỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của ngƣời bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời đã thành niên nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời bị hại là vi phạm pháp luật nhƣng vì tham lam tƣ lợi bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết đi ̣nh hinh pha ̣t: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai
̀ báo; có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình bồi thƣờng cho ngƣời bị hại và ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động, chƣa có tiền án tiền sự.
Xét, về mức hình phạt nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Lê Xuân Đ là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Lê Văn T là anh ruột của bị cáo và ngƣời bị hại đã thỏa thuận bồi thƣờng xong; tại cơ quan điều tra, ngƣời bị hại không yêu cầu bồi thƣờng gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 700.000 đồng tiền cầm sợi dây chuyền bạc, bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho bà Trần Thị N.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Xuân Đ phạm tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 135; Điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Xuân Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2017.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự.
Buộc bị cáo Lê Xuân Đ trả lại cho bà Trần Thị N 700.000 đồng.
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lê Xuân Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm nghin) đồng án phí hình sự
̀ sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (03); - Chi cục THA thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (04); - THA hình sự (02); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quân Vƣơng |