- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 191/2017/HNGĐ-ST Ngày 22 - 11 - 2017 “V/v: Ly hôn giữa chị Y và anh V” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒ A Á N NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Đoàn;
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Dũng;
2. Ông Nguyễn Văn Ha ̣nh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cảnh- Là Thư ký Tòa án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Châu Phướ c Hâ ̣u- Chứ c vu ̣: Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 815/2017/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2017, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1982; Địa chỉ: Xa H, thành̃ phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Có mă ̣t).
2. Bị đơn: Anh Trương Đình V, sinh năm 1983; Địa chỉ: Phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Có mă ̣t).
NỘI DUNG VỤ Á N:
* Tại đơn khởi kiện ngày 14/8/2017, trong quá trinh giải quyết vụ á n và tại
̀ phiên tòa chị Nguyễn Thị Hải Y trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Y và anh V tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk ngày 03/12/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chi ̣ Y về chung sống ta ̣i nhà cha me ̣ của anh V, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó đến cuối năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, anh V thườ ng hay nhâ ̣u nhe ̣t đi sớ m về khuya, ngoài ra anh V cho rằng chi ̣ Y đi theo đa ̣o Diê ̣u âm ta ̣i Thái Lan, nhưng thực tế chi ̣ Y không đi theo đa ̣o. Vợ chồng đã cố gắng khắc phục nhưng vẫn không thể hàn gắn được. Đến tháng 8/2017 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng, anh V đánh đuổi chi ̣ Y ra khỏi nhà. Anh V và chị Y đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị Y nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V.
Về con chung: Chị Y và anh V có 02 con chung là Trương Nguyễn Phương T, sinh ngày 04/3/2011 và Trương Đình A, sinh ngày 17/11/2015. Chi ̣ Y hiê ̣n nay đang làm quản lý cho nhà may thiết kế thờ i trang “Áo dài duyên dáng” tại địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, lương thu nhâ ̣p hàng tháng là 10.000.000đồng. Về chỗ ở chị Y hiện đang ở nhờ nhà mẹ đẻ (bà Nguyễn Thị Bé) tại xa H, thành phố B, tỉnh̃ Đăk Lăk và chị Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trương Đình A và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh V và chị Y tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, trong quá trinh giải quyết vụ á n và tại phiên tòa anh
̀
Trương Đình V trình bày: Viê ̣c kết hôn của anh và chi ̣ Y là hoàn toàn tự nguyện, về nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tinh tinh và quan điểm sống không hợp
́
̀ nhau. Nay chị Y yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, thì anh V đồng ý.
Về con chung: Anh V và chị Y có 02 con chung đúng như chị Y trình bày. Anh V hiê ̣n đang làm việc tại UBND thị xã H, tỉnh Đăk Lăk, lương thu nhâ ̣p trung bình hằng tháng là 5.200.000đồng. Về chỗ ở anh V hiện nay đang ở nhờ nhà bố mẹ đẻ (ông Trương Đình N và bà Hoàng Thị C) tại địa chỉ: phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Từ năm 2014 đến nay chi ̣ Y thinh thoả
̉ng đi sang Thái Lan theo đa ̣o Diê ̣u âm nên se ã ̉nh hưở ng đến viê ̣c nuôi da ̣y con cái. Do vâ ̣y, anh V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con. Anh V không yêu cầu chị Y phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh V và chị Y tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về viê ̣c giải quyết vu ̣ án: Đề nghi ̣ HĐXX căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghi ̣ quyết số: 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p quản lý và sử du ̣ng án phi và lê ̣ phi
́
́ Tòa án về mứ c thu án phí, lệ phí Tòa án”.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chi ̣ Nguyễn Thị Hải Y.
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trương Đình V.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là Trương Nguyễn Phương T, sinh ngày 04/3/2011 cho anh Trương Đình V được trực tiếp nuôi dưỡng.
Giao con chung là Trương Đình A, sinh ngày 17/11/2015 cho chị Nguyễn Thị Hải Y được trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hôn nhân: Quan hê ̣ hôn nhân giữa anh Trương Đình V và chị Nguyễn Thị Hải Y là hoàn toàn tự nguyện và anh chi ̣ có đăng ký kết hôn tại UBND phường T thành phố B, tỉnh Đăk Lăk vào ngày 03/12/2009. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Xét về tinh tra ̣ng hôn nhân của anh V và chị Y, qua lời trinh bày của đương sự
̀
̀ xác định vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Từ tháng 8/2017 cho đến nay, chị Yến và anh V không còn chung sống vớ i nhau nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Tại phiên toà anh V và chị Y đều thừ a nhâ ̣n tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc và yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh, chi ̣ được ly hôn. Căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trương Đình V.
[2]. Về con cái: Anh Trương Đình V và chị Nguyễn Thị Hải Y có 02 con chung là Trương Nguyễn Phương T, sinh ngày 04/3/2011 và Trương Đình A, sinh ngày 17/11/2015. Hiê ̣n nay các con chung đang ở vớ i anh V và anh V, chi ̣ Y đều có nguyê ̣n vo ̣ng được trực tiếp nuôi con.
Xét về quyền lợi mọi mặt của con, cũng như nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên, xét thấy, chi ̣ Y và anh V đều có nghề nghiệp, chỗ ở và thu nhập ổn định, viê ̣c anh V cho rằng chi ̣ Y đi theo đa ̣o Diê ̣u âm ta ̣i Thái Lan nên sẽ ảnh hưở ng đến viê ̣c nuôi da ̣y con cái, nhưng anh V không có tài liê ̣u, chứ ng cứ chứ ng minh. Nên cần giao cho anh V, chi ̣ Y mỗi ngườ i nuôi mô ̣t ngườ i con. Tuy nhiên, đối vớ i cháu Trương Đình A, sinh ngày 17/11/2015 hiện nay còn nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi cần có sự chăm sóc và trực tiếp nuôi dưỡng của ngườ i mẹ. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần giao cháu T cho anh V nuôi dưỡng và giao cháu A cho chị Y nuôi dưỡng là phù hợp.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích về quyền này nhưng các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa đặt ra giải quyết trong cùng vụ án này.
[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghi ̣ quyết số: 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn chị Y phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghi ̣ quyết số: 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p quản lý và sử du ̣ng án phi và lê ̣ phi tòa án về mứ c thu án phí, lệ phí Tòa án”.
́
́
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trương Đình V.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Trương Nguyễn Phương T, sinh ngày 04/3/2011 cho anh Trương Đình V được trực tiếp nuôi dưỡng.
Giao con chung là Trương Đình A, sinh ngày 17/11/2015 cho chị Nguyễn Thị Hải Y được trực tiếp nuôi dưỡng.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phi: Chị Nguyễn Thị Hải Y phải chi ̣u 300.000đồng (Ba trăm nghìn
́ đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi 2.800.000đồng (Hai triệu, tám trăm nghìn đồng) mà chi ̣ Y đa nô ̣̃ p theo biên lai
́ số AA/2016/0001120 ngày 17/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.
Chi ̣ Y được nhận lại 2.500.000đồng (Hai triệu, lăm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Thông báo quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - P.Kiểm tra- TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND TP.B; - CC THADS TP.B; - UBND phường T, Tp.B, tỉnh Đăk Lăk; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phạm Văn Đoàn |